Cuộc chiến lạm phát bước vào chặng khó
Lạm phát tăng trở lại cùng đà đi lên của lợi suất trái phiếu đang làm thay đổi kỳ vọng về lãi suất, báo hiệu chặng đường khó khăn hơn của kinh tế toàn cầu.
Kỳ vọng về một chu kỳ giảm lãi suất tại các nền kinh tế lớn đang nhanh chóng nhường chỗ cho khả năng chính sách tiền tệ tiếp tục thắt chặt.

New Zealand vừa nâng lãi suất, Australia đã ba lần tăng chi phí vay từ đầu năm, trong khi Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) và Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) cũng chịu sức ép phải hành động nếu lạm phát không hạ nhiệt. Chặng cuối của quá trình đưa lạm phát về mục tiêu mà không đẩy nền kinh tế vào suy thoái đang trở nên khó khăn hơn.
Tăng trưởng tại nhiều nền kinh tế phát triển vẫn đứng vững, thị trường lao động tương đối ổn định và nhu cầu tiêu dùng chưa giảm mạnh. Những điều kiện từng được xem là dấu hiệu thành công của “hạ cánh mềm” giờ lại cho phép các ngân hàng trung ương duy trì lãi suất cao lâu hơn thay vì sớm nới lỏng như thị trường từng kỳ vọng.
Sau một thời gian liên tục hạ nhiệt, lạm phát tại nhiều nền kinh tế phát triển đang có dấu hiệu tăng trở lại, với Khu vực đồng euro ghi nhận mức 3,3% trong tháng 8, cao nhất trong ba năm và vượt khá xa mục tiêu 2% của ECB. Xu hướng giảm giá cũng chững lại tại một số nền kinh tế khác.
Xung đột Trung Đông đã đẩy giá dầu và khí đốt tăng mạnh đúng lúc các ngân hàng trung ương tiến gần hơn tới mục tiêu kiểm soát lạm phát. Châu Âu bước vào mùa tích trữ khí đốt với chi phí cao hơn nhiều so với trước chiến sự, còn người tiêu dùng Mỹ phải trả nhiều tiền hơn cho nhiên liệu, thu hẹp dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ.
Ở phía sau biến động của giá nhiên liệu, các ngân hàng trung ương còn theo dõi những tín hiệu kém thuận lợi từ giá dịch vụ và lạm phát lõi. Giá dịch vụ, vốn chịu ảnh hưởng nhiều từ chi phí lao động, đang tăng nhanh tại phần lớn các nền kinh tế phát triển được khảo sát.
Tuy nhiên, xu hướng này chưa đồng đều khi lạm phát dịch vụ tại Đức giảm nhẹ trong tháng 8, lạm phát lõi ổn định và kỳ vọng về mức tăng giá trong tương lai tại nhiều nơi chưa thay đổi đáng kể. Khả năng cú sốc năng lượng lan sang tiền lương và giá cả trên diện rộng vì thế vẫn chưa rõ ràng.
Sự thận trọng của các ngân hàng trung ương tương phản với phản ứng mạnh trên thị trường trái phiếu, nơi lợi suất tại Mỹ, Anh, Nhật Bản và nhiều nền kinh tế lớn đã lên vùng cao nhất trong nhiều năm. Chi phí vay mua nhà, huy động vốn của doanh nghiệp và vay nợ của chính phủ theo đó chịu sức ép tăng trước cả những quyết định lãi suất tiếp theo.
Trong hơn một thập kỷ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, tăng trưởng yếu, lạm phát thấp và đầu tư hạn chế đã giữ lãi suất ở mức cực thấp. Bức tranh hiện nay khác đáng kể khi kinh tế toàn cầu vẫn tăng trưởng qua hàng loạt cú sốc, còn nhu cầu vốn từ cả chính phủ và doanh nghiệp ngày càng lớn.
Nhiều chính phủ đang tăng vay để chi cho quốc phòng, hạ tầng, năng lượng và các chương trình kinh tế - xã hội, đúng lúc các tập đoàn công nghệ huy động lượng vốn lớn cho trung tâm dữ liệu và hạ tầng AI. Cuộc cạnh tranh vốn giữa những người đi vay lớn giúp nhà đầu tư có thêm khả năng yêu cầu lợi suất cao hơn khi mua trái phiếu.
Mức lợi suất đó không chỉ phản ánh lo ngại về lạm phát hay nợ công. Sức chống chịu tốt hơn dự báo của kinh tế toàn cầu trước chiến tranh, căng thẳng thương mại và các cú sốc giá cả cũng cho thấy hoạt động kinh tế có thể tiếp tục trong môi trường chi phí vốn cao. Các ngân hàng trung ương nhờ đó có thêm thời gian để đưa lạm phát về mục tiêu mà chưa phải ưu tiên hỗ trợ tăng trưởng.
Kinh nghiệm 2021-2022 khiến giới hoạch định chính sách đặc biệt cảnh giác với nguy cơ hành động quá muộn. Việc đánh giá thấp tính dai dẳng của lạm phát khi đó dẫn tới những đợt tăng lãi suất mạnh sau đó, nhưng kinh nghiệm này cũng không thể trở thành lý do để phản ứng quá mức với một cú sốc dầu khí mà chính sách tiền tệ khó kiểm soát. Nếu giá năng lượng không truyền sang tiền lương và dịch vụ, thắt chặt quá mạnh có thể gây sức ép không cần thiết lên tăng trưởng.
Dữ liệu lạm phát tháng 8 tại Mỹ sẽ là một trong những căn cứ quan trọng trước cuộc họp của Fed, còn ECB phải tiếp tục theo dõi mức độ truyền dẫn của giá năng lượng sang phần còn lại của nền kinh tế. Các quyết định sắp tới vì thế phụ thuộc nhiều vào việc áp lực giá chỉ tập trung ở năng lượng hay bắt đầu bám rễ sâu hơn.