Kiến tạo hệ sinh thái để Hà Nội dẫn dắt du lịch vùng
Hữu Tiệp•07/09/2026 - 18:43
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới mở ra những định hướng mới cho ngành Du lịch. Với Hà Nội, Nghị quyết không chỉ đặt ra yêu cầu phát huy lợi thế của một đô thị di sản, mà còn hướng tới vai trò đầu tàu dẫn dắt du lịch vùng. Xung quanh vấn đề này, PV Báo và Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội đã có cuộc trao đổi với TS Bùi Văn Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Hà Nội học và Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới mở ra những định hướng mới cho ngành Du lịch. Với Hà Nội, Nghị quyết không chỉ đặt ra yêu cầu phát huy lợi thế của một đô thị di sản, mà còn hướng tới vai trò đầu tàu dẫn dắt du lịch vùng. Xung quanh vấn đề này, PV Báo và Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội đã có cuộc trao đổi với TS Bùi Văn Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Hà Nội học và Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.
“
Hà Nội có lợi thế đặc biệt mà không phải đô thị nào cũng có, vừa là Thủ đô chính trị - hành chính quốc gia, vừa là đô thị di sản nghìn năm, Thành phố sáng tạo của UNESCO, trung tâm ngoại giao, giáo dục, khoa học, y tế, giao thông và tổ chức sự kiện lớn nhất miền Bắc. Giá trị nổi bật của Hà Nội không chỉ nằm ở số lượng di tích, lễ hội và làng nghề, mà ở mật độ và chiều sâu của các lớp văn hóa. Trong một không gian tương đối tập trung, Hà Nội hội tụ Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, khu phố cổ, khu phố Pháp, hệ thống đình, đền, chùa, bảo tàng, nghệ thuật trình diễn, ẩm thực, làng nghề và cảnh quan sông Hồng. Đây là điều kiện để phát triển những sản phẩm trải nghiệm đa tầng, thay vì tham quan từng di tích riêng lẻ.
TS Bùi Văn Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Hà Nội học và Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.
PV: Thưa ông, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới vừa được Bộ Chính trị ban hành, mở ra những định hướng mới cho ngành Du lịch. Theo ông, đâu là điểm mới, mang tính đột phá nhất của Nghị quyết này so với những chủ trương, chính sách về phát triển du lịch trước đây?
TS Bùi Văn Tuấn: Theo tôi, điểm đột phá quan trọng nhất của Nghị quyết 26-NQ/TW không chỉ nằm ở việc nâng cao mục tiêu tăng trưởng, mà là sự thay đổi căn bản về mô hình phát triển: chuyển từ “phát triển ngành du lịch” sang “phát triển hệ sinh thái kinh tế du lịch”; từ tăng trưởng theo số lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.
Nếu như Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2017 có ý nghĩa mở đường khi xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, thì Nghị quyết 26-NQ/TW tiếp tục tư tưởng đó nhưng tiến thêm một bước mới, đó là xác lập du lịch là một động lực của mô hình tăng trưởng mới, có khả năng đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số và tạo sức lan tỏa sang thương mại, vận tải, công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế số và kinh tế đêm.
Trên cơ sở các nội dung của Nghị quyết 26-NQ/TW, có thể nhận diện năm chuyển đổi lớn.
Thứ nhất, chuyển từ khai thác tài nguyên sang kiến tạo giá trị. Văn hóa không còn được xem chủ yếu là “tài nguyên đầu vào”, mà trở thành nền tảng cốt lõi để sáng tạo sản phẩm, định vị thương hiệu, tạo trải nghiệm và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.
Thứ hai, các chỉ tiêu về mức chi tiêu, thời gian lưu trú, tỷ lệ quay lại, chất lượng trải nghiệm, sự hài lòng, môi trường và an toàn được đặt ngang hàng với số lượt khách. Đây là chuyển đổi rất quan trọng về phương pháp đánh giá hiệu quả du lịch.
Khách quốc tế tham quan các gian trưng bày sản phẩm làng nghề của Hà Nội. Ảnh:Nguyễn Thủy
Thứ ba, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị điểm đến dựa trên hệ sinh thái dữ liệu. Nghị quyết yêu cầu hình thành cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia, nền tảng số tích hợp, trung tâm điều hành thông minh và hệ thống theo dõi sức chứa, phân luồng khách, chất lượng dịch vụ, môi trường và an toàn theo thời gian thực.
Thứ tư, chuyển từ phát triển đơn ngành, đơn địa phương sang tổ chức các cực tăng trưởng, trung tâm, hành lang và chuỗi liên kết vùng. Lần đầu tiên vai trò của Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng được định vị rõ như ba cực tăng trưởng có trách nhiệm dẫn dắt du lịch vùng.
Thứ năm, Nghị quyết mở đường cho những công cụ thể chế mới như hợp tác công tư trong bảo tồn và khai thác điểm đến; ưu đãi đầu tư đối với các dự án du lịch động lực; cơ chế thí điểm có kiểm soát; kinh tế đêm, kinh tế ven sông, nền tảng số, hoàn thuế tại điểm mua sắm và cơ chế thu hút khách lưu trú dài ngày.
Vì vậy, điểm mới cốt lõi có thể khái quát là: Nghị quyết 26 -NQ/TW chuyển du lịch từ một ngành khai thác điểm đến thành một hệ sinh thái kiến tạo giá trị, được dẫn dắt bằng văn hóa, công nghệ, thị trường và quản trị hiện đại.
PV: Nghị quyết xác định Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng là 3 cực tăng trưởng du lịch, trong đó Hà Nội giữ vai trò trung tâm, đầu tàu dẫn dắt du lịch vùng. Trong bối cảnh Thủ đô vừa có những thay đổi về địa giới hành chính, đồng thời đang đẩy mạnh xây dựng đô thị di sản, theo ông Hà Nội đang có những lợi thế nào và cần vượt qua những thách thức gì để đảm nhiệm tốt vai trò này?
TS Bùi Văn Tuấn: Hà Nội có lợi thế đặc biệt mà không phải đô thị nào cũng có, vừa là Thủ đô chính trị - hành chính quốc gia, vừa là đô thị di sản nghìn năm, Thành phố sáng tạo của UNESCO, trung tâm ngoại giao, giáo dục, khoa học, y tế, giao thông và tổ chức sự kiện lớn nhất miền Bắc.
Giá trị nổi bật của Hà Nội không chỉ nằm ở số lượng di tích, lễ hội và làng nghề, mà ở mật độ và chiều sâu của các lớp văn hóa. Trong một không gian tương đối tập trung, Hà Nội hội tụ Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, khu phố cổ, khu phố Pháp, hệ thống đình, đền, chùa, bảo tàng, nghệ thuật trình diễn, ẩm thực, làng nghề và cảnh quan sông Hồng. Đây là điều kiện để phát triển những sản phẩm trải nghiệm đa tầng, thay vì tham quan từng di tích riêng lẻ.
Về vị trí vùng, Hà Nội là cửa ngõ phân phối khách đến Ninh Bình, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Lào Cai, Hà Giang và các tỉnh Đông Bắc - Tây Bắc. Nếu tổ chức tốt, Hà Nội không chỉ giữ khách mà còn trở thành “trạm điều phối” dòng khách quốc tế, trung tâm MICE, trung tâm dữ liệu, xúc tiến, đào tạo nhân lực và phân phối sản phẩm du lịch của cả miền Bắc.
Việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp và sắp xếp từ 526 xuống còn 126 xã, phường tạo ra những không gian quản trị mới. Điều này mở cơ hội hình thành các cụm sản phẩm liên xã, liên phường, khắc phục tình trạng tài nguyên du lịch bị chia cắt bởi ranh giới hành chính cũ.
Quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng mở rộng cách nhìn về không gian du lịch: từ lõi Hoàn Kiếm - Ba Đình sang cấu trúc đa trung tâm, gắn đô thị với nông thôn, làng nghề, sinh thái, sông hồ và hành lang liên vùng. Đặc biệt, sông Hồng được xác định là trục xanh, trục cảnh quan trung tâm, không gian văn hóa, di sản, du lịch và dịch vụ kết nối Vùng Thủ đô với vùng đồng bằng sông Hồng.
Tuy vậy, Hà Nội đang đối mặt với ít nhất sáu thách thức: Sản phẩm văn hóa còn thiên về tham quan, thời gian trải nghiệm ngắn và mức chi tiêu chưa tương xứng với giá trị di sản; không gian du lịch tập trung quá mức tại khu vực nội đô lịch sử, trong khi khu vực ngoại thành, làng nghề và ven sông chưa được kết nối thành chuỗi hoàn chỉnh; giao thông từ sân bay, kết nối giữa các điểm đến và giao thông công cộng ban đêm còn hạn chế; thiếu những tổ hợp biểu diễn, hội nghị, mua sắm, giải trí và nghệ thuật quy mô quốc tế; quản trị điểm đến còn phân tán giữa nhiều ngành; cơ sở dữ liệu chưa đủ khả năng hỗ trợ điều hành theo thời gian thực; sức ép giữa bảo tồn và thương mại hóa, giữa du khách và cư dân, giữa kinh tế đêm và chất lượng sống ngày càng rõ rệt.
Do đó, “đầu tàu” không nên được hiểu đơn thuần là địa phương đón nhiều khách nhất. Đầu tàu phải là nơi hình thành chuẩn mực sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quản trị và cơ chế liên kết; đồng thời có khả năng tạo và phân phối dòng khách, vốn đầu tư và tri thức cho toàn vùng.
PV: Một trong những định hướng đáng chú ý của Nghị quyết là phát triển các sản phẩm du lịch chất lượng cao, lấy văn hóa làm nền tảng và bản sắc làm lợi thế cạnh tranh. Với nguồn tài nguyên văn hóa phong phú của Hà Nội, theo ông, Thủ đô nên ưu tiên phát triển những mô hình, sản phẩm du lịch nào để tạo dấu ấn riêng, đồng thời gia tăng giá trị cho điểm đến?
TS Bùi Văn Tuấn: Tôi đề xuất mô hình “Hà Nội - Thành phố di sản sống và sáng tạo”, được tổ chức như một hệ sinh thái sản phẩm thay vì một tour hay một điểm tham quan riêng lẻ. Mô hình này có thể phát triển theo bốn lớp trải nghiệm.
Lớp thứ nhất - Trải nghiệm chiều sâu lịch sử: kết nối Hoàng thành Thăng Long - Ba Đình - Văn Miếu - khu phố cổ - khu phố Pháp - hệ thống bảo tàng thành một “hành trình ký ức Thăng Long - Hà Nội”. Du khách không chỉ nghe thuyết minh mà được tham gia trải nghiệm nhập vai, trình diễn thực cảnh, bảo tàng số, thực tế tăng cường và kể chuyện đa ngôn ngữ.
Lớp thứ hai - Trải nghiệm văn hóa sống: đưa du khách đến với nghệ nhân, cộng đồng thực hành di sản, nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực và đời sống thường nhật. Các làng nghề như Bát Tràng, Vạn Phúc, Đường Lâm, Phú Vinh, Sơn Đồng không nên chỉ là nơi mua sản phẩm, mà trở thành “xưởng sáng tạo mở”, nơi du khách cùng thiết kế, chế tác, học nghề và sở hữu sản phẩm cá nhân hóa có chứng nhận nguồn gốc.
Mô hình “Hà Nội - Thành phố di sản sống và sáng tạo”, được tổ chức như một hệ sinh thái sản phẩm thay vì một tour hay một điểm tham quan riêng lẻ. Mô hình này có thể phát triển theo bốn lớp trải nghiệm. Nguyễn Thủy
Lớp thứ ba - Trải nghiệm sông Hồng: hình thành tuyến “Sông Mẹ - Dòng chảy văn minh Thăng Long”, kết nối trung tâm lịch sử với các làng cổ, làng nghề, di tích, nông nghiệp sinh thái và không gian sáng tạo hai bên bờ. Đây không chỉ là tuyến du thuyền, mà là sản phẩm du lịch tái tạo: một phần doanh thu được tái đầu tư cho cảnh quan, môi trường, bến bãi, di sản và sinh kế cộng đồng.
Lớp thứ tư - Hà Nội về đêm: phát triển chuỗi sản phẩm “12 giờ đêm Hà Nội”, bao gồm biểu diễn nghệ thuật, ẩm thực, thiết kế, thời trang, chợ sáng tạo, tham quan di sản đêm, du lịch đường sông, hòa nhạc và trải nghiệm làng nghề về đêm. Mỗi không gian phải có chủ đề riêng, tránh tình trạng kinh tế đêm chỉ được hiểu là ăn uống và phố đi bộ.
Giá trị gia tăng của mô hình nằm ở cơ chế liên kết văn hóa - công nghiệp sáng tạo - công nghệ - thương mại. Du khách có thể sử dụng một “Hanoi Heritage Pass” tích hợp vé di tích, bảo tàng, giao thông công cộng, biểu diễn, làng nghề, ẩm thực và ưu đãi mua sắm. Dữ liệu từ thẻ giúp Thành phố nhận diện hành vi, phân luồng khách và thiết kế sản phẩm phù hợp với từng thị trường.
Khác biệt của Hà Nội so với Bangkok, Singapore, Seoul hay Kyoto không nằm ở việc cạnh tranh bằng các công trình giải trí giống họ, mà ở khả năng biến chiều sâu văn hóa của một kinh đô nghìn năm thành trải nghiệm sống, sáng tạo và có thể tiếp cận bằng công nghệ hiện đại.
PV: Nếu đặt mục tiêu đến năm 2030 đón 10-12 triệu lượt khách quốc tế trong mối tương quan với yêu cầu bảo tồn bản sắc của một đô thị di sản, theo ông Hà Nội cần ưu tiên những hạng mục hạ tầng và giải pháp công nghệ nào trong giai đoạn 2026-2030 để vừa đáp ứng nhu cầu phát triển, vừa bảo đảm tính bền vững?
TS Bùi Văn Tuấn: Theo tôi, để đón 10-12 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2030 mà vẫn bảo đảm tính bền vững và bản sắc đô thị di sản, Hà Nội không thể chỉ tăng số phòng lưu trú hay mở rộng các điểm tham quan. Thành phố cần chuyển từ tư duy “hạ tầng phục vụ số lượng khách” sang “hạ tầng quản trị chất lượng điểm đến”, với ba yêu cầu xuyên suốt: tiếp cận thuận tiện, phân bố khách hợp lý và bảo vệ sức chứa của di sản.
Đối với Hà Nội, tôi đề xuất năm ưu tiên hạ tầng.
Một là, nâng cấp năng lực tiếp cận cửa ngõ: sân bay Nội Bài, giao thông công cộng khối lượng lớn, kết nối nhanh sân bay - trung tâm - các cực du lịch và hệ thống điểm trung chuyển liên vùng. Việc gia tăng khách quốc tế sẽ không bền vững nếu thời gian tiếp cận trung tâm kéo dài và trải nghiệm giao thông thiếu thuận tiện.
Hai là, xây dựng mạng lưới giao thông du lịch xanh: xe buýt điện, tuyến đường sắt đô thị kết nối điểm đến, xe đạp công cộng, bãi đỗ ngoại vi và hệ thống đi bộ liên hoàn trong khu vực di sản. Nội đô lịch sử cần ưu tiên con người và trải nghiệm không gian, không thể tiếp tục mở rộng sức chứa bằng phương tiện cá nhân.
Ba là, đầu tư hạ tầng du lịch đường sông, nhưng phải đồng bộ từ bến thủy, phương tiện, an toàn, cảnh quan, vệ sinh môi trường đến sản phẩm hai bên bờ. Nếu chỉ có tàu mà thiếu chuỗi điểm dừng và trải nghiệm cộng đồng, tuyến sông Hồng khó tạo được giá trị cao.
Bốn là, hình thành trung tâm hội nghị - triển lãm, biểu diễn, hòa nhạc và tổ hợp văn hóa - sáng tạo có khả năng đón sự kiện quốc tế. Đây là điều kiện quan trọng để phát triển MICE, kéo dài thời gian lưu trú và khắc phục tính mùa vụ.
Năm là, ưu tiên hạ tầng môi trường tại các điểm đến: nhà vệ sinh đạt chuẩn, nước sạch, thu gom và phân loại rác, xử lý nước thải, kiểm soát tiếng ồn, phòng cháy, thoát nạn và khả năng tiếp cận cho người cao tuổi, người khuyết tật.
Về công nghệ, Hà Nội cần xây dựng một nền tảng quản trị điểm đến thống nhất, gồm: kho dữ liệu du lịch dùng chung, liên thông với lưu trú, giao thông, hàng không, vé điện tử, sự kiện, phản ánh của khách và dữ liệu doanh nghiệp; bản đồ số du lịch đa ngôn ngữ, tích hợp lộ trình, vé, thanh toán, cảnh báo, y tế và hỗ trợ khẩn cấp; “Hanoi Pass” và hệ thống vé điện tử liên thông; trợ lý du lịch AI đa ngôn ngữ dựa trên dữ liệu chính thống về lịch sử, văn hóa và dịch vụ; cảm biến và camera phân tích mật độ khách, sức chứa, giao thông, tiếng ồn, chất lượng không khí và rác thải tại các khu vực nhạy cảm; bản sao số đối với khu phố cổ, Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu và các vùng di sản để mô phỏng tác động của lượng khách, sự kiện và dự án đầu tư; hệ thống dự báo và quản trị khủng hoảng điểm đến.
Nguyên tắc quan trọng là công nghệ phải “ẩn” phía sau trải nghiệm. Chuyển đổi số không nên làm di sản trở nên phô diễn hoặc sân khấu hóa quá mức, mà phải giúp du khách hiểu sâu hơn và giúp chính quyền bảo vệ di sản tốt hơn.
PV: Để Hà Nội không chỉ phát triển du lịch của riêng mình mà còn thực sự đóng vai trò dẫn dắt du lịch vùng đồng bằng sông Hồng và Vùng Thủ đô mở rộng, theo ông, Thành phố cần những cơ chế đặc thù nào về quy hoạch, đầu tư, quản lý điểm đến và liên kết vùng?
TS Bùi Văn Tuấn: Theo tôi, để Hà Nội thực sự dẫn dắt du lịch vùng đồng bằng sông Hồng và Vùng Thủ đô mở rộng, điều quan trọng nhất là phải chuyển từ mô hình “liên kết hành chính” sang “quản trị một không gian du lịch chức năng”.
Liên kết không nên dừng ở ký kết hợp tác hay xúc tiến chung, mà phải hình thành sản phẩm chung, dữ liệu chung, hạ tầng kết nối, nguồn lực thực hiện và cơ chế phân chia lợi ích.
Để Hà Nội thực sự dẫn dắt du lịch vùng đồng bằng sông Hồng và Vùng Thủ đô mở rộng, điều quan trọng nhất là phải chuyển từ mô hình “liên kết hành chính” sang “quản trị một không gian du lịch chức năng”. Ảnh: Nguyễn Thủy
Cần tập trung vào sáu nhóm cơ chế đặc thù sau.
Thứ nhất, cơ chế quy hoạch tích hợp du lịch. Mọi quy hoạch về giao thông, văn hóa, không gian ven sông, đô thị, làng nghề và nông thôn phải tích hợp chức năng du lịch ngay từ đầu. Du lịch không nên tiếp tục “đi sau”, tìm cách khai thác những không gian đã được quy hoạch cho mục tiêu khác.
Thứ hai, cơ chế quản lý điểm đến theo mô hình DMO. Cần hình thành Tổ chức quản lý điểm đến Hà Nội với sự tham gia của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, hiệp hội, cơ sở đào tạo, chuyên gia và cộng đồng. DMO không thay thế cơ quan quản lý nhà nước, mà chịu trách nhiệm điều phối thị trường, thương hiệu, sản phẩm, dữ liệu và chất lượng điểm đến.
Thứ ba, cơ chế PPP đặc thù cho văn hóa - du lịch. Cần tách rõ ba loại tài sản: phần di sản bắt buộc Nhà nước bảo vệ; phần dịch vụ có thể giao doanh nghiệp đầu tư, vận hành; phần không gian cộng đồng cần đồng quản trị với cư dân. Cơ chế PPP phải gắn với giới hạn sức chứa, tỷ lệ tái đầu tư cho bảo tồn và quyền hưởng lợi của cộng đồng.
Thứ tư, cơ chế điều phối du lịch vùng có ngân sách và dữ liệu chung. Hà Nội nên chủ trì Hội đồng điều phối du lịch vùng đồng bằng sông Hồng và Vùng Thủ đô, xây dựng một bản đồ sản phẩm, bộ lịch sự kiện, kho dữ liệu, chương trình xúc tiến và thẻ du lịch liên vùng. Liên kết vùng phải chuyển từ ký kết mang tính phong trào sang đồng đầu tư, đồng thương hiệu, đồng tiêu chuẩn và cùng chia sẻ lợi ích.
Có thể phát triển các hành lang sản phẩm: Hà Nội - Ninh Bình: kinh đô, di sản và cảnh quan; Hà Nội - Quảng Ninh - Hải Phòng: thành phố - biển đảo - di sản; Hà Nội - Bắc Ninh - Hưng Yên: văn hóa Kinh Bắc, Phố Hiến và làng nghề; Hà Nội - Phú Thọ: cội nguồn và tín ngưỡng; Hà Nội - Lào Cai - Hà Giang: cửa ngõ đô thị đến miền núi phía Bắc.
Thứ năm, cơ chế tài chính dựa trên hiệu quả điểm đến. Một phần nguồn thu từ vé, phí tham quan, dịch vụ ban đêm, khai thác không gian công cộng và giá trị gia tăng đất đai quanh các dự án hạ tầng cần được tái đầu tư cho bảo tồn, môi trường, giao thông công cộng và phát triển cộng đồng.
Vai trò “đầu tàu” của Hà Nội không có nghĩa là tập trung khách, vốn và lợi ích về Thủ đô. Hà Nội chỉ thực sự dẫn dắt khi có khả năng tạo thị trường, xây dựng tiêu chuẩn, điều phối hạ tầng, chia sẻ dữ liệu và phân phối dòng khách đến toàn vùng.
Cơ chế đặc thù cần hướng tới nguyên tắc: Một không gian du lịch vùng, một hệ thống điều phối, một nền tảng dữ liệu, nhiều sản phẩm khác biệt và lợi ích được chia sẻ công bằng.
PV: Hà Nội vừa ban hành Đề án phát triển kinh tế đêm với kỳ vọng đưa lĩnh vực này trở thành một động lực tăng trưởng mới. Từ góc nhìn của ông, Nghị quyết số 26-NQ/TW tạo thêm những cơ hội và động lực gì cho Hà Nội trong phát triển kinh tế đêm? Và theo ông, đâu là hướng đi để kinh tế đêm của Thủ đô thực sự tạo ra giá trị khác biệt, thay vì chỉ dừng ở việc kéo dài thời gian hoạt động của các dịch vụ?
TS Bùi Văn Tuấn: Nghị quyết 26 có ý nghĩa đặc biệt vì đã nâng kinh tế đêm từ một loại hình dịch vụ bổ trợ thành một bộ phận cấu thành của hệ sinh thái du lịch và một động lực tăng trưởng mới. Nghị quyết đặt kinh tế đêm trong mối quan hệ trực tiếp với công nghiệp văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, mua sắm, ẩm thực, giải trí, nền tảng số và đô thị lễ hội.
Đồng thời, Nghị quyết mở đường cho cơ chế thí điểm có kiểm soát, ưu đãi đầu tư, hợp tác công tư, quản trị theo dữ liệu và phát triển các tổ hợp hoạt động cả ngày lẫn đêm. Đây là nền tảng chính trị quan trọng để Hà Nội triển khai Nghị quyết số 34/2026/NQ-HĐND về phát triển kinh tế ban đêm và Kế hoạch số 282/KH-UBND.
Chính sách mới của Hà Nội yêu cầu khu, tuyến, điểm kinh tế đêm phải phù hợp quy hoạch và được kiểm soát về an ninh, phòng cháy, giao thông, môi trường, tiếng ồn và tác động đến cư dân. Tuy nhiên, Hà Nội cần tránh đồng nhất kinh tế đêm với kéo dài giờ bán hàng hoặc mở thêm phố đi bộ. Kinh tế đêm có giá trị cao phải là kinh tế trải nghiệm và kinh tế sáng tạo.
Tôi đề xuất tổ chức theo mô hình đa trung tâm: Lõi Hoàn Kiếm - Ba Đình: di sản, nghệ thuật, ẩm thực và bảo tàng đêm; Hồ Tây - sông Hồng: âm nhạc, sáng tạo, cảnh quan và du lịch đường thủy; khu vực Đông Anh - Cổ Loa: lịch sử, trình diễn thực cảnh và lễ hội; Bát Tràng - Gia Lâm: làng nghề, thiết kế, ẩm thực và trải nghiệm chế tác đêm; Sơn Tây - Ba Vì - Đường Lâm: nghỉ dưỡng, văn hóa xứ Đoài và sinh thái; các khu đô thị mới: biểu diễn, mua sắm, hội nghị, thể thao và giải trí hiện đại.
Mỗi khu vực phải có bản sắc, khung giờ và giới hạn sức chứa riêng; không nên áp dụng một mô hình chung cho toàn Thành phố.
Hiệu quả kinh tế đêm cũng không thể chỉ đo bằng doanh thu. Cần theo dõi đồng thời thời gian lưu trú, mức chi tiêu, việc làm, tỷ lệ doanh nghiệp địa phương tham gia, thu nhập cộng đồng, lượng rác, tiếng ồn, ùn tắc, sự cố an ninh và mức độ hài lòng của cư dân. Dự thảo Đề án đã đề xuất khá đầy đủ nhóm chỉ số này; vấn đề tiếp theo là phải số hóa, xác lập ngưỡng cảnh báo và gắn kết quả giám sát với quyết định mở rộng, điều chỉnh hoặc dừng hoạt động.
Tóm lại, Nghị quyết số 26-NQ/TW kiến tạo nền tảng thể chế và mở rộng không gian chính sách để Hà Nội phát triển kinh tế ban đêm theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững.
Tuy nhiên, giá trị của cơ chế chỉ được hiện thực hóa khi Thành phố chuyển từ tư duy kéo dài thời gian kinh doanh sang kiến tạo một hệ sinh thái văn hóa - sáng tạo - du lịch có bản sắc, trong đó di sản, nghệ thuật, công nghệ, dịch vụ và cộng đồng cư dân được kết nối thành chuỗi giá trị.
Vì vậy, đích đến của kinh tế đêm không đơn thuần là làm cho Hà Nội “thức muộn hơn”, mà là nâng cao chất lượng và hàm lượng văn hóa của đời sống đô thị sau 18 giờ; qua đó gia tăng trải nghiệm cho du khách, mở rộng sinh kế và giá trị kinh tế, đồng thời bảo đảm an ninh, môi trường và quyền được nghỉ ngơi của cư dân.
Chỉ khi dung hòa được sức sống kinh tế với bản sắc văn hóa và chất lượng sống, kinh tế đêm mới thực sự trở thành một động lực phát triển bền vững của Thủ đô.
PV: Xin trân trọng cám ơn ông!
Thực hiện: Nguyễn Thủy - Thiết kế đồ họa: Hữu Tiệp