Sửa Luật An toàn thực phẩm: Bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân
Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được xây dựng nhằm khắc phục những bất cập của Luật năm 2010, đồng thời đổi mới phương thức quản lý theo hướng phòng ngừa, kiểm soát rủi ro, tăng cường hậu kiểm và ứng dụng dữ liệu số, qua đó nâng cao hiệu quả bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP), bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục sự cố mất ATTP
Đồng thời, dự thảo Luật cũng hướng tới xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về ATTP để đáp ứng nhu cầu truy cập, sử dụng thông tin phục vụ quản lý nhà nước và lợi ích công cộng; tăng cường công tác hậu kiểm để nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi quy định của pháp luật về ATTP.
Theo Bộ Y tế, dự thảo Luật ATTP (sửa đổi) quy định chung về ATTP; quyền và nghĩa vụ của cơ sở kinh doanh thực phẩm; điều kiện đối với thực phẩm; điều kiện đối với cơ sở kinh doanh thực phẩm; biện pháp quản lý ATTP; hoạt động thử nghiệm thực phẩm, giám định phục vụ quản lý nhà nước về ATTP; hệ thống thông tin về ATTP; truy xuất nguồn gốc về ATTP; thông tin, truyền thông về ATTP, quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; quản lý nhà nước về ATTP.
Hiện, dự thảo Luật đã được Bộ Tư pháp xem xét thẩm định và đang tiếp tục được hoàn thiện, dự kiến sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai sắp tới.

Tại hội thảo góp ý hoàn thiện dự thảo Luật, do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội vừa tổ chức, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho biết, đây là dự án Luật thu hút sự quan tâm lớn, với rất nhiều ý kiến góp ý của các doanh nghiệp, hiệp hội, đặc biệt là các góp ý nhằm tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ.
Đại diện Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) bày tỏ ủng hộ với 4 chính sách sửa đổi Luật ATTP trong Nghị quyết 184/2026/NQ-CP: kiểm soát nguy cơ theo chuỗi cung ứng; cải cách phương thức quản lý và cơ chế kiểm tra; số hoá và xây dựng hệ thống thông tin liên thông; nâng cao hiệu quả quản lý thức ăn đường phố, suất ăn tập thể.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, đại diện EuroCham cho rằng, cơ chế "công bố tiêu chuẩn sản phẩm" được đề xuất trong dự thảo Luật thực chất là một hình thức tiền kiểm mới. Hiện nay, quy trình là doanh nghiệp tự công bố và tự chịu trách nhiệm, sản phẩm được lưu hành ngay sau khi tự công bố và cơ quan nhà nước kiểm tra trong quá trình lưu thông trên thị trường.

Nhưng theo dự thảo Luật, doanh nghiệp sẽ chuẩn bị và nộp hồ sơ theo yêu cầu. Sau đó, hồ sơ được cơ quan nhà nước tiếp nhận, xử lý và đưa lên hệ thống trong 15 ngày; sản phẩm phải có thông tin hoặc mã hồ sơ trên hệ thống mới được lưu hành. Theo đại diện EuroCham, quy trình này sẽ biến quyền tự công bố của doanh nghiệp thành một quy trình cấp phép mới. Vì vậy, EuroCham kiến nghị duy trì quy trình tự công bố, tự chịu trách nhiệm, sản phẩm được lưu hành ngay sau khi công bố.
Bên cạnh đó, đại diện EuroCham góp ý, việc yêu cầu doanh nghiệp phải đăng ký lại hoặc công bố lại hồ sơ sau mỗi 5 năm sẽ làm phát sinh chi phí lớn; phạm vi thu thập dữ liệu để xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu liên thông, quản lý quá rộng; dự thảo Luật đã có quy định cụ thể về điều kiện bảo đảm ATTP của cơ sở cung cấp thức ăn đường phố, suất ăn tập thể, nhưng cần quy định cụ thể về hậu kiểm với các cơ sở nhỏ lẻ được miễn cả giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP, miễn công bố sản phẩm…
Kiến nghị quản lý dựa trên rủi ro và lịch sử tuân thủ
Bà Trần Hoàng Yến, Phó Trưởng Văn phòng đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng, sản phẩm xuất khẩu được sản xuất để tiêu dùng tại thị trường nhập khẩu, không phải thị trường Việt Nam. Vì vậy, việc buộc doanh nghiệp đáp ứng thêm một hệ thống chỉ tiêu Việt Nam mà nước nhập khẩu không yêu cầu sẽ làm tăng chi phí và thời gian, không tạo thêm giá trị ATTP cho người tiêu dùng Việt Nam vì sản phẩm không tiêu thụ trong nước.
Đồng thời, VASEP kiến nghị việc chứng nhận lô hàng xuất khẩu cần được quản lý theo mức độ nguy cơ của sản phẩm và lịch sử tuân thủ pháp luật của từng doanh nghiệp. Với các cơ sở đã áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn quốc tế như HACCP hay ISO 22000 cần được xem xét giảm tần suất kiểm tra.
Theo bà Yến, quản lý dựa trên rủi ro và lịch sử tuân thủ không nên chỉ áp dụng cho hậu kiểm trong nước mà cần cho cả kiểm tra, chứng nhận lô hàng xuất khẩu, việc doanh nghiệp tuân thủ tốt nhiều năm vẫn bị kiểm tra như doanh nghiệp có cảnh báo sẽ không tạo được động lực tuân thủ.

Từ thực tiễn hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, ông Nguyễn Như Tiệp, đại diện Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú cho biết, một trong các vướng mắc lớn nhất trong quản lý ATTP, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và tiếp cận, mở rộng thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản là tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóa chất, kháng sinh, chất ô nhiễm môi trường, phụ gia, chất bảo quản… trong nông sản thực phẩm.
Các mối nguy này phát sinh trong canh tác nông nghiệp, bảo quản, sơ chế, chế biến thực phẩm và chỉ có thể khống chế hiệu quả bằng việc áp dụng hệ thống quản lý ATTP tiên tiến như GAP/BAP/ASC ở khâu sản xuất ban đầu và GMP, HACCP, ISO 22000 tại các khâu bảo quản, sơ chế, chế biến, kinh doanh thực phẩm.
Do vậy, ông Tiệp cho rằng, bên cạnh việc thiết lập khuôn khổ pháp lý và lộ trình áp dụng, nhà nước cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ mạnh mẽ các cơ sở sản xuất kinh doanh, đặc biệt là cơ sở vừa và nhỏ áp dụng các hệ thống quản lý ATTP tiên tiến như GAP/BAP/ASC, GMP, HACCP, ISO 22000… trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Dự thảo Luật ATTP (sửa đổi) đang được xây dựng gồm 9 chương, 75 điều với định hướng tạo bước chuyển căn bản trong tư duy và phương thức quản lý nhằm chuyển từ kiểm soát từng khâu riêng lẻ sang quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm; từng bước thống nhất đầu mối quản lý từ Trung ương đến địa phương; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và kết nối cơ sở dữ liệu, hướng tới tích hợp dữ liệu của doanh nghiệp với hệ thống dữ liệu quốc gia.