Văn hóa

Bài 5. Xây “hệ điều hành” dữ liệu văn hóa để di sản đi vào đời sống số

Nhóm phóng viên 31/08/2026 09:55

Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia theo hướng thống nhất, liên thông, có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài đặt ra yêu cầu tổ chức lại các nguồn dữ liệu hiện có thành một hạ tầng chung. Khi đó, số hóa không dừng ở việc tạo ra các bản sao kỹ thuật số, mà hướng tới khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu cho bảo tồn, giáo dục, nghiên cứu và phát triển công nghiệp văn hóa...

cover-bai5-cuoi.jpg

Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia theo hướng thống nhất, liên thông, có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài đặt ra yêu cầu tổ chức lại các nguồn dữ liệu hiện có thành một hạ tầng chung. Khi đó, số hóa không dừng ở việc tạo ra các bản sao kỹ thuật số, mà hướng tới khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu cho bảo tồn, giáo dục, nghiên cứu và phát triển công nghiệp văn hóa.

tit1-b5.png

Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1-7-2025, đã thể hiện rõ hơn tinh thần huy động nguồn lực xã hội, ứng dụng khoa học - công nghệ và phát huy giá trị di sản. Đến nay, Nghị định số 308/2025/NĐ-CP và các văn bản liên quan đã tiếp tục cụ thể hóa nhiều nội dung. Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là “cần có nghị định”, mà quan trọng hơn là tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực thi các quy định theo hướng đủ rõ để dự án có thể ký được hợp đồng, huy động được vốn, kiểm soát được rủi ro và bảo vệ được lợi ích công.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, giải quyết vấn đề này, trước hết cần có một chương hoặc một khung quy định riêng cho hợp tác công - tư trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản, bởi đây không hoàn toàn giống dự án hạ tầng giao thông. Nhà nước không chỉ góp đất, công trình hay ngân sách mà còn giao quyền tiếp cận một giá trị biểu tượng; doanh nghiệp không chỉ xây dựng mà còn tham gia sáng tạo nội dung, công nghệ, thị trường và trải nghiệm. Quy định phải xác định rõ những phần tuyệt đối không được thương mại hóa hoặc chuyển giao; những dịch vụ phụ trợ có thể xã hội hóa; những quyền khai thác có điều kiện; và cơ chế giám sát đối với hình ảnh, câu chuyện, không gian thiêng và quyền của cộng đồng.

Ngoài ra cần chuẩn hóa một số dạng hợp đồng mẫu: Số hóa và vận hành nền tảng; cung cấp dịch vụ tham quan thông minh; khai thác hình ảnh, dữ liệu và thương hiệu; phát triển sản phẩm lưu niệm; tổ chức sự kiện và trải nghiệm tại di tích; bảo tồn gắn với khai thác dịch vụ. Mỗi mẫu hợp đồng cần quy định tối thiểu về phạm vi quyền, chất lượng chuyên môn, bảo mật dữ liệu, quyền sở hữu đối với sản phẩm phái sinh, thời hạn, công thức chia sẻ doanh thu, nghĩa vụ tái đầu tư cho bảo tồn, kiểm toán, xử lý vi phạm và chuyển giao dữ liệu khi hợp đồng kết thúc. Dữ liệu lõi phải có bản sao do Nhà nước nắm giữ, tránh tình trạng doanh nghiệp rút đi thì di sản số cũng biến mất.

nhom3.jpg
Cần chuẩn hóa một số dạng hợp đồng mẫu: Số hóa và vận hành nền tảng; cung cấp dịch vụ tham quan thông minh; khai thác hình ảnh, dữ liệu và thương hiệu; phát triển sản phẩm lưu niệm; tổ chức sự kiện và trải nghiệm tại di tích. Ảnh: Hữu Tiệp

Cơ chế lựa chọn nhà đầu tư phải đánh giá cả năng lực văn hóa và chất lượng giải pháp, không chỉ chọn giá cao nhất hoặc chi phí thấp nhất. Với dự án sáng tạo, một ý tưởng tốt thường không thể mô tả hoàn toàn bằng thông số kỹ thuật cứng. Có thể áp dụng đấu thầu hai giai đoạn, đối thoại cạnh tranh, đặt hàng theo kết quả hoặc thử nghiệm có kiểm soát. Nhà nước xác định mục tiêu và “ranh giới đỏ”; doanh nghiệp được đề xuất cách làm; cộng đồng và chuyên gia tham gia thẩm định. Những dự án nhỏ có thể được thí điểm 12-24 tháng với trần doanh thu, phạm vi dữ liệu và chỉ số đánh giá rõ ràng trước khi nhân rộng.

Bên cạnh đó, muốn bảo vệ người dám đổi mới phải chuyển từ bảo vệ bằng khẩu hiệu sang bảo vệ bằng quy trình. Cần quy định rằng quyết định được đưa ra trên cơ sở hồ sơ đầy đủ, tham vấn chuyên môn, công khai lợi ích, định giá độc lập, không có xung đột lợi ích và nằm trong phạm vi thí điểm thì không bị quy kết chỉ vì kết quả thị trường thấp hơn dự báo. Trách nhiệm phải gắn với hành vi vi phạm và động cơ vụ lợi, không đồng nhất rủi ro sáng tạo với sai phạm. Đồng thời, cơ quan quản lý cần có đầu mối một cửa tư vấn pháp lý cho các thiết chế di sản, bởi không thể yêu cầu giám đốc một bảo tàng vừa là chuyên gia văn hóa, vừa tự giải quyết toàn bộ bài toán tài chính, công nghệ, tài sản công và sở hữu trí tuệ.

Cuối cùng, mọi mô hình xã hội hóa phải trả lời ba câu hỏi: Di sản được bảo vệ tốt hơn không; công chúng và cộng đồng được hưởng lợi nhiều hơn không; giá trị tạo ra có được phân chia minh bạch không. Doanh nghiệp cần một thời hạn đủ dài để hoàn vốn và một cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý. Nhà nước cần quyền giám sát, quyền tiếp nhận dữ liệu và cơ chế chấm dứt khi lợi ích công bị xâm hại; cộng đồng cần tiếng nói và phần lợi ích chính đáng. Nếu thiết kế được sự cân bằng đó, xã hội hóa sẽ không còn là lời kêu gọi đóng góp một chiều, mà trở thành quan hệ đầu tư bình đẳng, minh bạch và có trách nhiệm. Đó cũng chính là biểu hiện cụ thể nhất của tư duy kiến tạo phát triển trong lĩnh vực di sản: Nhà nước đặt chuẩn mực và bảo vệ lợi ích công, đồng thời mở đường để tri thức, công nghệ và nguồn lực xã hội cùng làm cho di sản sống động hơn trong đời sống hôm nay.

Để gỡ nút thắt về cơ chế định giá và chấp nhận tài sản trí tuệ văn hóa như một loại tài sản kinh tế thực sự, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: Pháp luật phải xác lập rõ “gói quyền” thay vì định giá di sản như một khối duy nhất. Một hiện vật thuộc sở hữu toàn dân không thể đem chuyển nhượng, nhưng quyền sử dụng hình ảnh trong một bộ phim, quyền khai thác mô hình 3D trong trò chơi, quyền gắn nhãn hiệu bảo tàng lên sản phẩm hay quyền tổ chức một trải nghiệm số có thể được cấp phép trong phạm vi, thời hạn và lãnh thổ cụ thể. Khi đối tượng quyền được mô tả rõ, việc định giá mới khả thi và việc bảo vệ phần bất khả chuyển nhượng của di sản vẫn được bảo đảm.

Cùng với đó, cần ban hành khung định giá tài sản trí tuệ văn hóa với ba phương pháp được thừa nhận: Phương pháp chi phí đối với dữ liệu và sản phẩm số mới tạo lập; phương pháp thị trường khi có giao dịch so sánh; phương pháp thu nhập dựa trên dòng tiền dự kiến đối với quyền khai thác thương mại. Trong thực tế có thể kết hợp một khoản phí tối thiểu, tỷ lệ phần trăm doanh thu và cơ chế điều chỉnh theo kết quả. Với dự án mới chưa có tiền lệ, nên cho phép định giá theo dải hoặc thí điểm có thời hạn, sau đó định giá lại trên số liệu thị trường thực tế, thay vì buộc phải đưa ra một con số “đúng tuyệt đối” ngay từ đầu.

Mặt khác, cần xây dựng sổ đăng ký tài sản trí tuệ và quyền khai thác của các thiết chế văn hóa; mọi hợp đồng cấp phép phải có mã, phạm vi quyền, thời hạn, nghĩa vụ bảo vệ bản sắc, chỉ số doanh thu và cách chia sẻ lợi ích. Một đơn vị định giá chuyên nghiệp hoặc hội đồng độc lập liên ngành văn hóa - tài chính - sở hữu trí tuệ - công nghệ có thể hỗ trợ các giao dịch lớn. Đồng thời, phải có “vùng an toàn pháp lý” cho cán bộ: Nếu họ thực hiện đúng quy trình công khai, có thẩm định độc lập, không vụ lợi và có cơ chế giám sát thì được bảo vệ trước rủi ro khách quan của đổi mới.

Và, đặc biệt phải coi cộng đồng chủ thể và nghệ nhân là một bên có quyền lợi, không chỉ là nguồn tư liệu. Một phần nguồn thu cần quay lại bảo tồn, truyền dạy và cải thiện sinh kế của cộng đồng. Chỉ khi quyền lợi được phân bổ minh bạch, tài sản trí tuệ văn hóa mới được nhìn nhận đúng là một tài sản kinh tế đặc biệt: Có thể tạo lợi ích, nhưng giá trị kinh tế ấy phải phục vụ sự sống lâu dài và phẩm giá văn hóa của di sản.

tit2-b5.png

Nghị định số 277/2026/NĐ-CP đã xác lập Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia như một môi trường tích hợp và phân phối dữ liệu theo mô hình kết hợp giữa tập trung và phân tán. Từ nền tảng đó, yêu cầu đặt ra là khắc phục tình trạng dữ liệu cát cứ: Mỗi nguồn dữ liệu từ cơ sở cần được chuẩn hóa, gắn định danh, dữ liệu đặc tả và kết nối theo chuẩn dùng chung, qua đó giảm đầu tư trùng lặp, tăng khả năng tìm kiếm, chia sẻ và tái sử dụng. Nhưng liên thông không đồng nghĩa với mở toàn bộ. Dữ liệu càng đi xa càng cần cơ chế phân quyền, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước và quyền của cộng đồng chủ thể.

Nhiều chuyên gia cho rằng, cần xếp loại, phân cấp mức độ công khai dữ liệu để vừa bảo vệ được những tài liệu quý (như sắc phong, bản dịch Hán Nôm gốc), vừa có thể chia sẻ một phần dữ liệu thô cho cộng đồng cùng lan tỏa và sử dụng an toàn. Bởi số hóa không đồng nghĩa với công khai toàn bộ, còn dữ liệu mở cũng không có nghĩa là dữ liệu vô chủ. Một bản số chất lượng cao của sắc phong, mộc bản, bản dịch Hán Nôm hay tri thức nghi lễ có thể giúp nghiên cứu và giáo dục, nhưng nếu công bố thiếu kiểm soát thì cũng có thể bị cắt ghép, thương mại hóa trái phép, xuyên tạc nội dung, thậm chí hỗ trợ làm giả hiện vật. Vì vậy, nguyên tắc đúng không phải là “mở hay đóng”, mà là mở có phân loại, có điều kiện và có trách nhiệm.

Muốn mở dữ liệu một cách có trách nhiệm, trước hết phải xác định rõ ai là chủ thể của dữ liệu di sản, ai có quyền quyết định mức độ công khai và ai được hưởng lợi từ việc khai thác. Lấy ví dụ trong cách tiếp cận với nghệ nhân và làng nghề, TS Nguyễn Tri Phương, giảng viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội phân tích: Làng nghề và nghệ nhân không phải chỉ là “đối tượng được số hóa”, mà là chủ thể và đồng tác giả của nhiều lớp dữ liệu về chính di sản của họ. Vì vậy, mức độ tham gia của cộng đồng cần được nâng từ tham vấn đến đồng thiết kế, thậm chí đồng quản trị dữ liệu. Khi xây dựng cơ sở dữ liệu, họ phải được biết dữ liệu được tạo lập như thế nào và có quyền tham gia quản trị những thông tin liên quan trực tiếp đến di sản của mình.

Theo TS Nguyễn Tri Phương, để làm tốt công việc này cần bảo đảm bốn quyền. Thứ nhất là quyền được thông báo và đồng thuận trước khi số hóa cũng như công bố di sản. Có những di sản cộng đồng không muốn công bố, vì vậy cần bảo đảm quyền được thông báo và quyền đồng thuận trước khi tiến hành số hóa, phổ biến dữ liệu. Thứ hai là quyền kiểm chứng nội dung, xác nhận tính đúng đắn cả về kỹ thuật và ý nghĩa văn hóa của dữ liệu được số hóa. Thứ ba là quyền kiểm soát cách khai thác dữ liệu, trong đó cần phân biệt rõ mục đích phi thương mại và mục đích thương mại. Thứ tư là quyền chia sẻ lợi ích phát sinh. Khi cơ sở dữ liệu đã được xây dựng và sau đó được khai thác, tạo ra những lợi ích từ thông tin, tư liệu về di sản thì cần có nguyên tắc chia sẻ lợi ích với chủ thể đã tạo dựng, lưu giữ và trao truyền những giá trị đó. Từ đó, về mặt chuẩn mực, việc sử dụng dữ liệu di sản cần dựa trên các nguyên tắc về lợi ích tập thể, quyền kiểm soát, trách nhiệm và đạo đức.

Từ việc xác lập quyền của chủ thể di sản, vấn đề tiếp theo là thiết kế cơ chế tiếp cận dữ liệu. Không phải mọi loại dữ liệu đều có cùng mức độ công khai. PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, có thể thiết kế ít nhất bốn tầng dữ liệu. Tầng thứ nhất là dữ liệu công khai phổ thông, gồm mã định danh, tên gọi, niên đại, địa điểm, mô tả khái quát, ảnh xem trước có độ phân giải phù hợp, thông tin chỉ dẫn và tình trạng quyền. Đây là lớp dữ liệu nên được mở rộng rãi để người dân tra cứu, báo chí, truyền thông, nhà trường và du khách sử dụng. Tầng thứ hai là dữ liệu mở có giấy phép, gồm siêu dữ liệu được chuẩn hóa, hình ảnh hoặc âm thanh ở chất lượng nhất định, bản dịch phổ thông, mô hình 3D đã giảm độ chi tiết. Người dùng được tái sử dụng nhưng phải ghi nguồn, tôn trọng tính toàn vẹn, không xuyên tạc và tuân thủ điều kiện thương mại hoặc phi thương mại được gắn bằng máy đọc được.

nhom2.jpg
Với dự án sáng tạo cho số hóa di sản, một ý tưởng tốt thường không thể mô tả hoàn toàn bằng thông số kỹ thuật cứng. Ảnh: Hữu Tiệp

Tầng thứ ba là dữ liệu hạn chế, chỉ cấp quyền theo mục đích, gồm ảnh độ phân giải rất cao, bản quét nguyên bản, phiên âm và bản dịch học thuật chưa công bố, dữ liệu vị trí có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh hiện vật, dữ liệu về kỹ thuật chế tác hoặc nghi lễ có giới hạn tiếp cận. Nhà nghiên cứu, cơ quan báo chí hay doanh nghiệp có thể đề nghị sử dụng thông qua tài khoản định danh, hồ sơ mục đích, cam kết bảo mật và cơ chế ghi nhật ký. Tầng thứ tư là dữ liệu đặc biệt nhạy cảm, gồm bí quyết cộng đồng không muốn phổ biến, nội dung thiêng, thông tin cá nhân, hồ sơ liên quan đến an ninh, dữ liệu có thể làm tăng nguy cơ trộm cắp hoặc xâm hại di sản. Lớp dữ liệu này phải được bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ truy cập tại chỗ hoặc theo quyết định của chủ thể và cơ quan có thẩm quyền.

Điều cốt lõi là mỗi đối tượng số phải đi kèm “nhãn quyền” rõ ràng: ai sở hữu bản gốc, ai tạo bản số, ai nắm quyền tác giả đối với bản dịch, ai có quyền cấp phép, được sử dụng vào việc gì, có phải ghi công hay chia sẻ doanh thu hay không. Với di sản cộng đồng, cần có cơ chế đồng thuận trước, được cung cấp đầy đủ thông tin và chia sẻ lợi ích. Không thể coi việc một di sản đã được đưa vào danh mục kiểm kê đồng nghĩa với việc Nhà nước hoặc một đơn vị số hóa mặc nhiên có toàn quyền thương mại hóa dữ liệu về di sản đó.

Việc phân tầng quyền tiếp cận cần đi cùng các giải pháp bảo vệ kỹ thuật. Có thể áp dụng ảnh xem trước có dấu bản quyền số (watermark), dấu vân tay số, chữ ký số, truy xuất nguồn gốc, phân quyền theo vai trò, xác thực nhiều lớp, nhật ký tải xuống và cảnh báo khai thác bất thường. Tuy nhiên, hàng rào kỹ thuật không thể thay thế hàng rào pháp lý và đạo đức. Cần có quy trình thẩm định dữ liệu trước khi công bố, cơ chế rà soát lại cấp độ tiếp cận, gỡ bỏ nhanh khi chủ thể phát hiện sai lệch và chế tài đủ sức răn đe đối với hành vi chiếm đoạt, xuyên tạc hay thương mại hóa trái phép.

Bảo vệ dữ liệu số cũng không thể tách rời việc bảo vệ chính di sản và không gian văn hóa nơi di sản tồn tại. Theo TS Nguyễn Tri Phương, các công nghệ giám sát thông minh có thể hỗ trợ phát hiện, cảnh báo những tình huống bất thường tại di tích; trong khi ở nơi chưa có điều kiện đầu tư thiết bị hiện đại, vai trò của cộng đồng và các tổ tự quản vẫn đặc biệt quan trọng. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng quy trình quản lý, trách nhiệm con người và chế tài đủ mạnh đối với hành vi lấy trộm, mua bán trái phép di vật, cổ vật. Với các hệ thống xử lý dữ liệu hình ảnh hoặc dữ liệu cá nhân, việc triển khai đồng thời phải tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư.

tit3-b5.png

Số hóa di sản không chỉ đặt ra yêu cầu về hạ tầng, công nghệ hay nguồn lực tài chính, mà trước hết đòi hỏi một đội ngũ đủ khả năng kết nối hai lĩnh vực vốn có ngôn ngữ chuyên môn rất khác nhau. Khi công nghệ ngày càng đi sâu vào bảo tồn và phát huy giá trị di sản, yêu cầu đối với cán bộ cũng thay đổi: Không chỉ hiểu di sản, họ cần biết đặt bài toán cho công nghệ; ngược lại, người làm công nghệ phải hiểu bối cảnh văn hóa để không biến một giải pháp kỹ thuật thành lớp trình diễn rời khỏi nội dung.

Trao đổi tại Chương trình thời sự “Số hóa di sản - đánh thức giá trị trong không gian số” do Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tổ chức tối 5-4-2026, (Diễn đạt khác không sử dụng bản tin cũ) ThS Nguyễn Thế Sơn, giám tuyển, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định những năm tới, số hóa di sản sẽ phát triển mạnh khi nhân lực văn hóa, di sản và công nghệ ngày càng được bổ sung. Nhiều trường đại học, đặc biệt là các trường nghệ thuật, đã đưa công nghệ vào đào tạo; cùng với sự phát triển của các không gian văn hóa, bảo tàng và Lễ hội Thiết kế sáng tạo, nhu cầu về nhân lực có khả năng kết nối công nghệ với văn hóa, di sản và sáng tạo ngày càng tăng.

Thực tế tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho thấy khoảng trống nhân lực này vẫn khá lớn. Tuy nhiên, thay vì chỉ chờ đội ngũ công nghệ đưa ra giải pháp, Văn Miếu khuyến khích cán bộ chuyên môn, trong đó có cán bộ làm công tác di sản văn hóa, chủ động học hỏi, tìm hiểu công nghệ để hình thành ý tưởng và đặt bài cho phía công nghệ thực hiện. Khi cán bộ chuyên môn có ý tưởng, họ sẽ cùng làm việc với các chuyên gia, cán bộ của đối tác công nghệ thông tin. Sự phối hợp chặt chẽ giữa hai phía giúp các sản phẩm công nghệ đáp ứng được yêu cầu về nội dung di sản, thay vì chỉ có yếu tố công nghệ mà thiếu chiều sâu văn hóa.

nhom4(1).jpg
Số hóa di sản không chỉ đặt ra yêu cầu về hạ tầng, công nghệ hay nguồn lực tài chính, mà trước hết đòi hỏi một đội ngũ đủ khả năng kết nối hai lĩnh vực vốn có ngôn ngữ chuyên môn rất khác nhau. Ảnh: Thu Giang

Từ thực tế này, bài toán nhân lực cần được nhìn theo hướng xây dựng nguồn nhân lực “lai”: Những người có nền tảng khoa học nhân văn, kiến thức về di sản và đồng thời có khả năng làm việc với công nghệ số hiện đại. Điều đó không có nghĩa mỗi cán bộ phải trở thành chuyên gia ở cả hai lĩnh vực, mà quan trọng là hình thành năng lực phối hợp, hiểu ngôn ngữ chuyên môn của nhau và cùng tham gia từ khâu xác định vấn đề, xây dựng ý tưởng đến thiết kế sản phẩm. Đào tạo thôi chưa đủ nếu các thiết chế văn hóa không có cơ chế thu hút và giữ chân nhân lực công nghệ chất lượng cao.

Bên cạnh bài toán nhân lực, số hóa di sản còn đòi hỏi thay đổi cách thức quản lý. PGS.TS Phạm Ngọc Trung, chuyên gia văn hóa, nguyên Trưởng khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho rằng đây là vấn đề lớn đã được Trung ương quan tâm, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy của người làm quản lý văn hóa. Theo ông, trước đây khi nói đến quản lý, người ta thường nhắc đến kế hoạch, mệnh lệnh, chủ trương, kiểm tra, thanh tra nhằm bảo đảm mục tiêu đề ra. Nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và số hóa, nội hàm quản lý cần được nhìn rộng hơn: văn hóa không chỉ là một lĩnh vực để quản lý, mà còn là nền tảng tinh thần, mục tiêu và động lực phát triển của xã hội.

Đây cũng là yêu cầu quan trọng khi chuyển những dữ liệu số thành nguồn lực phát triển. PGS.TS Phạm Ngọc Trung cho rằng, một điều đáng mừng là hiểu biết về văn hóa hiện nay ngày càng ở trình độ cao, sâu và rộng; quá trình số hóa cũng đang nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, địa phương, các ngành và nhiều giới trong xã hội. Tuy nhiên, điều ông trăn trở là làm thế nào để những tài liệu số đi sâu vào hoạt động của quần chúng, tiếp cận xã hội và giới trẻ một cách nhanh chóng, chính xác; đồng thời làm thế nào để các nhà sáng tạo có thể khai thác nguồn tư liệu này. Nếu chỉ mô phỏng, diễn lại hoặc lưu trữ những hoạt động vốn có của di sản thì số hóa mới hoàn thành một phần nhiệm vụ. Trong thời đại mới, cần tạo điều kiện để các nhà sáng tạo từ những tư liệu số, những di sản văn hóa và các tác phẩm văn hóa nghệ thuật tạo ra những sản phẩm mới. Khi đó, dữ liệu di sản không chỉ được lưu trữ mà có thể trở thành nguồn tư liệu, tài sản có giá trị để sáng tạo, thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển.

Theo hướng này, số hóa di sản không nên được nhìn như một nhiệm vụ hành chính đơn thuần, mà phải trở thành một phần của hệ sinh thái sáng tạo. Đội ngũ cán bộ di sản không chỉ có nhiệm vụ bảo quản, quản lý dữ liệu mà cần có khả năng kết nối với công nghệ, giới sáng tạo, doanh nghiệp và cộng đồng để đưa dữ liệu vào đời sống. Ngược lại, công nghệ không chỉ được sử dụng để lưu trữ mà phải trở thành công cụ giúp diễn giải, sáng tạo và phát huy giá trị di sản. Vì vậy, giải bài toán nhân lực cho số hóa di sản cần được đặt đồng thời ở ba cấp độ: Đào tạo đội ngũ có khả năng kết nối chuyên môn di sản với công nghệ; xây dựng cơ chế đủ sức thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao; và đổi mới phương thức quản lý theo hướng kiến tạo không gian để dữ liệu di sản được tiếp cận, sáng tạo và phát huy trong đời sống. Đây là điều kiện để quá trình số hóa thực sự tạo ra một hệ sinh thái văn hóa số, thay vì chỉ hình thành những kho dữ liệu được lưu trữ nhưng ít được khai thác.

Nâng cao năng lực số và phát triển kỹ năng số cũng cần được coi là ưu tiên mà quốc gia chủ động hỗ trợ. Thành công của bảo tồn số phụ thuộc vào những chuyên gia có năng lực vừa về phương pháp số, vừa về di sản và hiện vật văn hóa. Một thế hệ chuyên gia công nghệ di sản được đào tạo bài bản có thể hình thành thông qua các chương trình giáo dục dành cho sinh viên, công chúng, các khóa đào tạo ở trường đại học và các hội thảo chuyên môn. Việc trao đổi thông tin và hỗ trợ kỹ thuật hiệu quả có thể được thực hiện thông qua các quan hệ hợp tác liên thể chế ở cả cấp quốc tế và trong nước. Các mối quan hệ hợp tác giữa bảo tàng Việt Nam, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ có thể mở ra khả năng tiếp cận các tổ chức quốc tế như UNESCO, qua đó tiếp cận những công cụ tiên tiến, cơ hội tài trợ và các thông lệ tốt trên thế giới. Thông qua những mối quan hệ hợp tác này, các tổ chức có thể thúc đẩy những thực hành có đạo đức, bảo vệ quyền sở hữu văn hóa và bảo đảm sự tham gia đầy đủ của cộng đồng trong hoạt động bảo tồn.

nhom1.jpg
Nâng cao năng lực số và phát triển kỹ năng số cũng cần được coi là ưu tiên mà quốc gia chủ động hỗ trợ. Thành công của bảo tồn số phụ thuộc vào những chuyên gia có năng lực vừa về phương pháp số, vừa về di sản và hiện vật văn hóa. Ảnh: Hoài Phương

Tuy nhiên, ngay cả khi công nghệ ngày càng mở rộng khả năng lưu giữ, một ranh giới vẫn cần được nhận thức rõ, số hóa không thể thay thế quá trình trao truyền trực tiếp của di sản. Theo bà Nguyễn Thị Lệ Quyên, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến quảng bá di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam, việc truyền dạy nghệ thuật truyền thống không đơn giản là chuyển giao một vài kỹ thuật hay kiến thức. Mỗi loại hình nghệ thuật được hình thành từ năng lực cơ thể, năng khiếu, cảm thức của người thực hành và cả môi trường văn hóa bao quanh họ.

Để hình thành một nghệ nhân cần người truyền dạy, phường hội, tri thức nghề, vốn sống, nền nếp làm nghề và trách nhiệm với cộng đồng. Đó là quá trình đồng hành lâu dài, có khi gần như “một thầy - một trò”, để từng lớp kỹ thuật và cảm thức được bồi đắp qua thời gian. “Số hóa là một công cụ rất mạnh giúp lưu giữ thông tin, dữ liệu và trạng thái của di sản tại một thời điểm, nhưng giá trị của nó là hỗ trợ chứ không thể thay thế các phương thức bảo tồn truyền thống như lớp học di sản, sân khấu biểu diễn thường xuyên hay sinh hoạt trực tiếp trong phường, hội, nhóm, câu lạc bộ”, bà Nguyễn Thị Lệ Quyên nhận định.

Từ thực tế những cộng đồng nghệ thuật truyền thống đã tồn tại qua nhiều thế hệ, có thể thấy sức sống của di sản cuối cùng không nằm ở việc nó được lưu giữ bằng phương tiện nào, mà ở chỗ còn có con người thực hành, trao truyền và tiếp tục làm mới nó trong đời sống hay không. Công nghệ có thể lưu lại một khoảnh khắc của di sản; nhưng để di sản tiếp tục sống, vẫn cần những con người ngày ngày hát, diễn, truyền nghề và giữ lấy môi trường văn hóa đã sinh ra nó.

Sau cùng, “hộ chiếu số” không phải một tấm thẻ công nghệ gắn lên di sản, mà là cách chúng ta tổ chức ký ức của mình trong thế giới số: Có địa chỉ, có nguồn gốc, có người chịu trách nhiệm và có con đường để tiếp tục được sử dụng. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, quyền được xác lập, hạ tầng được liên thông và con người đủ năng lực vận hành, di sản mới có thể đi từ kho lưu trữ vào lớp học, bảo tàng, sản phẩm sáng tạo và đời sống thường ngày. Đích đến của số hóa, vì thế, không phải là một kho dữ liệu đầy hơn, mà là một đời sống văn hóa giàu hơn - nơi quá khứ được gìn giữ bằng công nghệ nhưng tiếp tục sống bằng sự hiểu biết, sáng tạo và trách nhiệm của con người.

Báo cáo tại buổi làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các cơ quan liên quan về công tác bảo tồn, bảo tàng trong thời gian tới (ngày 19-8-2026), Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết: Để Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên mới theo các định hướng chiến lược của Đảng, đồng thời khắc phục khoảng trống trong phát triển văn hóa, đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đất nước như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ rõ, công tác bảo tồn và bảo tàng cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp.
Trong đó nhấn mạnh việc rà soát tổng thể hệ thống di sản, di tích, bảo tàng, thiết chế văn hóa lớn, các công trình, dự án có liên quan; tập trung khắc phục những hạn chế, vướng mắc, bất cập, sai sót trong công tác quản lý và tổ chức thực hiện bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, đúng định hướng…

Đẩy nhanh tiến độ chuẩn hóa, số hóa, đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu văn hóa số quốc gia. Có chính sách, giải pháp để phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa gắn với phát triển công nghiệp văn hóa, mang lại giá trị kinh tế, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Nghiên cứu bổ sung những cơ sở dữ liệu còn thiếu; lựa chọn xây dựng, phát triển bổ sung những giá trị mới để tiếp tục làm giàu các giá trị di sản văn hóa Việt Nam.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng, bảo đảm đáp ứng yêu cầu phát triển của giai đoạn mới và hợp tác quốc tế. Tiếp tục củng cố vai trò, vị thế, kinh nghiệm của Việt Nam trong việc tham gia các cơ chế, tổ chức quan trọng của UNESCO; bồi dưỡng các chuyên gia tư vấn độc lập tham gia vào cơ quan chuyên môn sâu của quốc tế…

nen-so-hoa.jpg

Bài viết: Thảo Hương, Minh Phương, Khánh Thư, Hương Giang

Ảnh, Video clip, Infographic: Hữu Tiệp, và CTV
Thiết kế đồ họa: Hữu Tiệp