Công nghệ phát triển nhanh đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo tồn, số hóa và từng bước hình thành “hộ chiếu số” cho di sản. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1-7-2025, đã bổ sung những quy định liên quan đến ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và huy động nguồn lực xã hội trong bảo vệ, phát huy giá trị di sản...
Công nghệ phát triển nhanh đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo tồn, số hóa và từng bước hình thành những hồ sơ định danh số cho di sản. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1-7-2025, đã bổ sung các quy định về ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và huy động nguồn lực xã hội trong bảo vệ, phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên, khi bước vào không gian số, di sản vẫn đối mặt với không ít nút thắt: từ dữ liệu, nhân lực, nguồn lực đến cơ chế quản lý, quyền khai thác và trách nhiệm bảo vệ. Chính những điểm nghẽn ấy quyết định số hóa có trở thành hạ tầng lâu dài hay chỉ dừng ở những dự án rời rạc.
“
“Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, AI sẽ ngày càng tham gia sâu vào việc tìm kiếm, tổng hợp, diễn giải và chuyển hóa tri thức. Nếu dữ liệu lịch sử, văn hóa của Việt Nam không đầy đủ, không được tổ chức tốt và không do chính chúng ta làm chủ, thì về lâu dài, những hệ thống khác có thể trở thành nơi định hình cách thế giới, thậm chí chính người Việt Nam hiểu về lịch sử, văn hóa Việt Nam và có thể dẫn đến sai lệch nếu chúng ta không làm chủ được. Đây là câu chuyện về chủ quyền tri thức, về quyền tự mình tổ chức và kể câu chuyện của dân tộc mình, chứ không chỉ là một dự án chuyển đổi số của ngành Văn hóa”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng chiều 19-8-2026.
Tại đợt 1, Kỳ họp không thường lệ thứ nhất của Quốc hội khóa XVI (diễn ra từ 3 đến 13-8-2026), yêu cầu tháo gỡ “điểm nghẽn thể chế”, khơi thông nguồn lực được nhấn mạnh trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Nhiều vấn đề được đại biểu Quốc hội đặt ra không chỉ nằm ở việc ban hành chính sách mới, mà còn ở tính thống nhất, khả thi của hệ thống pháp luật và những vướng mắc nảy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện. Nhìn từ câu chuyện số hóa di sản văn hóa, khoảng cách giữa quy định pháp luật và khả năng triển khai trong thực tế hiện lên khá rõ: Luật Di sản văn hóa đã mở thêm không gian cho ứng dụng công nghệ và huy động nguồn lực xã hội, nhưng cơ chế quản lý, khai thác dữ liệu, tài sản số và hợp tác với doanh nghiệp vẫn còn những điểm chưa thật rõ.
Thực tế số hóa di sản cho thấy rõ khoảng cách ấy. Theo báo cáo của Cục Di sản văn hóa, đến năm 2026, khoảng 4,3 triệu trang tài liệu hồ sơ khoa học di tích đã được scan; dữ liệu cơ bản của hàng vạn hiện vật bảo tàng cũng từng bước được số hóa. Đây là khối lượng dữ liệu lớn, tạo nền tảng cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu di sản và mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng. Ngành Văn hóa cũng đang từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu di sản theo hướng thống nhất. Nhưng tạo lập dữ liệu mới chỉ là bước đầu. Khi các bảo tàng, di tích muốn đưa dữ liệu 3D, hình ảnh số, tư liệu Hán Nôm hay hồ sơ khoa học đã được số hóa vào hợp tác với doanh nghiệp để phát triển sản phẩm giáo dục, du lịch, công nghiệp văn hóa hoặc các dịch vụ số, bài toán chuyển sang những câu hỏi khó hơn: Ai được quyền khai thác, khai thác đến đâu, định giá thế nào và nguồn thu được phân bổ, tái đầu tư ra sao?
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, vướng mắc lớn nhất hiện nay không phải doanh nghiệp không quan tâm hay đơn vị quản lý không muốn đổi mới, mà là hai bên cùng thiếu một hành lang đủ rõ để dám quyết định. Đơn vị công lập thường lo bị quy là làm thất thoát tài sản công, cấp quyền không đúng thẩm quyền hoặc xác định giá thấp; doanh nghiệp lại lo sau khi đã đầu tư số hóa, xây dựng nền tảng và thị trường thì quyền khai thác bị thay đổi, hợp đồng ngắn, khó thu hồi vốn hoặc không được ghi nhận phần giá trị sáng tạo của mình. Khi rủi ro pháp lý lớn hơn cơ hội, lựa chọn an toàn nhất thường là không làm.
“Có ít nhất năm điểm nghẽn. Một là chưa tách bạch rõ giá trị của hiện vật gốc, giá trị của dữ liệu số, quyền tác giả đối với ảnh chụp, bản dịch, mô hình 3D và quyền khai thác thương mại. Hai là thiếu phương pháp định giá đối với tài sản vô hình văn hóa; thị trường so sánh mỏng, doanh thu tương lai khó dự báo, trong khi thủ tục tài sản công lại thiên về tài sản hữu hình. Ba là thiếu cơ chế cho phép đơn vị sự nghiệp công lập giữ lại và tái đầu tư một phần nguồn thu từ cấp phép. Bốn là quy trình lựa chọn đối tác, chia sẻ rủi ro và doanh thu chưa phù hợp với dự án sáng tạo, nơi kết quả không thể xác định hoàn toàn từ đầu. Năm là thiếu hệ thống đo lường, kiểm toán và truy xuất doanh thu số, khiến cả Nhà nước và doanh nghiệp đều thiếu niềm tin”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn chỉ rõ.
Một vấn đề khác là cơ chế khai thác và tái đầu tư. Nếu đơn vị sự nghiệp công lập không có cơ chế đủ rõ để sử dụng nguồn thu từ dữ liệu, sản phẩm số cho việc duy trì, cập nhật và đầu tư trở lại, việc số hóa khó hình thành một vòng quay nguồn lực. Trong khi đó, với các dự án sáng tạo, công nghệ thay đổi nhanh, kết quả và thị trường không phải lúc nào cũng có thể xác định ngay từ đầu. Vì vậy, cơ chế lựa chọn đối tác, chia sẻ rủi ro và doanh thu cũng cần phù hợp với đặc thù này.
Công nghệ 3D Mapping hiện đại được ứng dụng tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: HTCông nghệ 3D Mapping hiện đại được ứng dụng tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Ảnh: Hải Nguyễn
Bia đề danh tiến sĩ được áp dụng công nghệ số hóa tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Khuê VănDu khách trải nghiệm thuyết minh tự động tại di tích Nhà tù Hỏa Lò. Ảnh: Hoàng Phương
Số hóa mở thêm một phương thức bảo tồn di sản, giúp lưu trữ, truy xuất và khai thác tư liệu thuận tiện hơn. Ảnh: Thu Giang
Những khoảng trống về cơ chế không chỉ khiến cơ quan quản lý thận trọng mà còn làm doanh nghiệp khó tính toán hiệu quả đầu tư. ThS Tạ Thị Tiên, Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số, Viện Phát triển Kinh tế, Văn hóa, Xã hội số, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, đồng thời là Giám đốc Công ty cổ phần Truyền thông Cổng Vàng Việt Nam cho biết doanh nghiệp đã nghiên cứu lĩnh vực số hóa hơn 10 năm và hiện làm chủ công nghệ, thiết bị số hóa hình ảnh 360 độ. Đơn vị đang phối hợp với cơ quan nhà nước theo hai hướng: cơ quan nhà nước đặt hàng trên cơ sở tiêu chuẩn, dữ liệu và yêu cầu pháp lý; hoặc hợp tác công - tư, trong đó cơ quan quản lý nhà nước nắm dữ liệu, doanh nghiệp tham gia khai thác, phát triển sản phẩm và đưa dữ liệu đến người dân, du khách. “Về góc độ khó khăn thì chủ yếu vẫn là câu chuyện liên quan tới hành lang pháp lý”, ThS Tạ Thị Tiên nói.
Theo ThS Tạ Thị Tiên, với các dự án đặt hàng, doanh nghiệp thường bị giới hạn về quy mô triển khai. Trong khi đó, cơ chế để doanh nghiệp cùng Nhà nước khai thác dữ liệu nhằm tạo nguồn thu, duy trì và tái đầu tư cho dự án vẫn chưa thật rõ. Doanh nghiệp có thể đầu tư công nghệ và tham gia vận hành, nhưng nếu chưa xác định được quyền khai thác, cách thức phân chia nguồn thu và trách nhiệm của từng bên, việc đầu tư dài hạn sẽ khó thực hiện. “Phân chia cũng như phối hợp vai trò giữa doanh nghiệp và Nhà nước như thế nào để việc số hóa di sản được bền vững là một vấn đề mà chúng tôi đang rất trăn trở”, ThS Tạ Thị Tiên chia sẻ.
Bên cạnh hành lang pháp lý, ThS Tiên nhận định số hóa di sản còn đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều nhóm chủ thể. Đây là lĩnh vực vừa có yêu cầu kỹ thuật cao, vừa cần kiến thức chuyên sâu về di sản, lịch sử và văn hóa địa phương. Một dự án có thể cần sự tham gia của chuyên gia di sản, nhà sử học, ban quản lý di tích và cả cộng đồng cư dân đang lưu giữ những câu chuyện, tri thức liên quan đến di sản. Trong khi đó, nguồn nhân lực vừa am hiểu công nghệ vừa có nền tảng về di sản vẫn còn thiếu.
Một trong những mối đe dọa dai dẳng đối với bảo tồn số là sự lỗi thời công nghệ - rủi ro khiến tệp dữ liệu trở nên không thể đọc hoặc sử dụng do định dạng, phần cứng, phần mềm lạc hậu hay dữ liệu bị hỏng. Những dữ liệu được lưu ở định dạng không còn được hỗ trợ hoặc trên thiết bị lưu trữ đã xuống cấp có thể mất khả năng truy cập nếu không được di trú và bảo trì định kỳ. Công nghệ thay đổi nhanh cũng khiến các công cụ VR, phần mềm quét 3D hay nền tảng tương tác hôm nay có thể trở nên lỗi thời chỉ sau vài năm. Bởi vậy, chi phí số hóa không kết thúc ở ngày nghiệm thu; nó kéo dài suốt vòng đời dữ liệu.
Thực tế tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho thấy, chi phí của số hóa không chỉ nằm ở việc quét, chụp, dựng dữ liệu ban đầu, mà còn kéo dài trong quá trình xây dựng sản phẩm, vận hành, bảo trì và cập nhật công nghệ. Theo TS Đường Ngọc Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám, kinh phí là một trong những vấn đề lớn mà các đơn vị phải đối mặt khi triển khai số hóa. Một phần mềm trải nghiệm dành cho học sinh, nếu đi sâu vào một chủ đề của Văn Miếu - Quốc Tử Giám, có thể có chi phí hàng trăm triệu đồng. Việc số hóa các công trình kiến trúc bằng thiết bị chuyên dụng, sau đó đưa dữ liệu lên một nền tảng để có thể sử dụng cũng đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn. Nhưng ngay cả khi đã có sản phẩm, bài toán tài chính vẫn chưa kết thúc. Thiết bị và sản phẩm số cần được bảo trì, nâng cấp, cập nhật thường xuyên, trong khi công nghệ thay đổi rất nhanh.
Chi phí bảo trì trong một số trường hợp còn có thể lớn hơn khoản đầu tư ban đầu. TS Đường Ngọc Hà dẫn trường hợp tại Bảo tàng Quảng Ninh, nơi từ những năm đầu hoạt động đã đưa vào hệ thống “Bảo tàng ảo” sử dụng công nghệ 3D; cùng với đó là các màn hình cảm ứng và nhiều thiết bị tương tác phục vụ khách tham quan. “Tuy nhiên, theo khảo sát của nhóm thực hiện, sau một, hai năm vận hành, không ít màn hình, máy móc tại thời điểm đó đã hỏng, không thể sử dụng. Thực tế cho thấy các thiết bị công nghệ trong bảo tàng vừa chịu hao mòn trong quá trình sử dụng, vừa phải đối mặt với điều kiện thời tiết, môi trường công cộng và những tác động bất thường như thiên tai. Bảo tàng Quảng Ninh cũng chịu thiệt hại nặng sau bão Yagi tháng 9-2024, phải đóng cửa hơn ba tuần để khắc phục, sửa chữa, nâng cấp toàn diện và mở cửa trở lại từ ngày 30-9-2024. Những sự cố như vậy cho thấy đầu tư số hóa không thể dừng ở kinh phí tạo lập ban đầu mà phải tính cả nguồn lực cho bảo trì, sửa chữa, nâng cấp thiết bị và cập nhật công nghệ, thông tin trong suốt quá trình vận hành”, TS Đường Ngọc Hà nói.
Nếu bài toán kinh phí đặt ra câu hỏi làm thế nào để có đủ nguồn lực cho số hóa và duy trì hệ thống, thì một vấn đề khác cần lưu tâm là số hóa đến đâu, công khai đến đâu và ai có quyền quyết định những gì được đưa lên không gian mạng. Bởi với di sản, dữ liệu không chỉ là thông tin. Đó có thể là tri thức được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ, hiện vật có giá trị đặc biệt hoặc những tư liệu mà việc công khai toàn bộ có thể tạo ra rủi ro. Theo TS Nguyễn Tri Phương, giảng viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, sự e dè trong ứng dụng công nghệ xuất hiện ở nhiều khía cạnh. Với di sản văn hóa phi vật thể, không phải tri thức nào cũng sẵn sàng được chia sẻ rộng rãi; có những bí quyết nghề nghiệp chỉ một cá nhân hoặc gia đình nắm giữ và không muốn công khai.
Ông dẫn ví dụ về công thức chế biến một món ăn với những định lượng cụ thể về nguyên liệu. Đó có thể là bí quyết nghề nghiệp được truyền lại qua nhiều thế hệ. Tương tự, bài thuốc do một nghệ nhân nắm giữ cũng có thể là tri thức mà người sở hữu không muốn phổ biến ra cộng đồng, chỉ truyền lại cho hậu bối trong nhà, thậm chí sẵn sàng “chết mang theo” nếu không tìm được truyền nhân. TS Nguyễn Tri Phương cho rằng, đây là một trong những nguyên nhân khiến việc số hóa di sản phi vật thể cần được cân nhắc kỹ, thay vì mặc định rằng mọi dữ liệu sau khi số hóa đều có thể công khai.
Với di sản vật thể, mối lo lại có phần khác. Trong quá trình xây dựng hồ sơ số cho hiện vật, TS Phương nhận thấy nhiều đơn vị lo ngại việc đưa quá nhiều thông tin lên không gian mạng có thể vô tình để lộ dữ liệu về những hiện vật quý, tạo nguy cơ cho công tác bảo vệ. “Nếu quảng bá bằng hình ảnh, bằng VR 360 rồi đưa hiện vật lên không gian mạng... không khác gì mời chào một số người, kẻ gian biết rằng vị trí này có một cổ vật, bảo vật rất quan trọng”, ông phân tích. Câu chuyện tại đình Tàm Xá (xã Vĩnh Thanh, Hà Nội) cho thấy rõ sự thận trọng này. Đình hiện lưu giữ 72 đạo sắc phong cổ thuộc ba triều đại Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Địa phương đã bước đầu số hóa, chụp ảnh tư liệu và in ảnh để du khách có thể tìm hiểu, nhưng ngay cả bản ảnh cũng hạn chế người tiếp cận, không trưng bày công khai. Theo ông Lê Phú Tiến, Trưởng ban Khánh tiết đình Tàm Xá, đây là những hiện vật có giá trị nên việc bảo quản phải được đặt lên hàng đầu. “Bảo vật của đình mà!”, ông nói.
TS Nguyễn Tri Phương chia sẻ về nguy cơ di sản bị xâm hại.
Thực tế, nguy cơ di sản bị xâm hại không chỉ là giả định. Mới đây, 4 thanh đá tại cầu đá Đồng Tràng, phường Ái Quốc (Hải Phòng) bị mất, cho thấy ngay cả những cấu kiện tưởng như có giá trị vật chất không lớn vẫn có thể bị xâm phạm. Đầu năm 2025, 17 hiện vật tại chùa Tây Am (nay thuộc xã Cao Minh, thành phố Hải Phòng) được phát hiện không còn trong chùa; tháng 7-2025, một thống đá cổ gần 300 năm tuổi tại đình Văn Cú (phường An Hải, thành phố Hải Phòng) cũng bị trộm. Những vụ việc này cho thấy yêu cầu bảo vệ di sản càng trở nên đáng lưu ý khi thông tin về hiện vật được đưa lên không gian mạng.
Số hóa di sản cũng đặt ra câu hỏi về quyền kiểm soát dữ liệu và cách thức đại diện cho di sản trên môi trường số. Với những di sản do cộng đồng gìn giữ, không phải mọi tư liệu đều có thể mặc nhiên đưa lên mạng hoặc sử dụng cho mục đích thương mại. Chẳng hạn, một công thức chế biến món ăn, bài thuốc hay bí quyết nghề nghiệp được truyền trong một gia đình, dòng họ có thể được xem là tri thức mà người nắm giữ không muốn công khai. Tương tự, với một hiện vật như trống nghi lễ, nếu chỉ đưa hình ảnh hoặc mô hình 3D lên mạng mà thiếu thông tin về nghi lễ, không gian và vai trò của nó trong đời sống cộng đồng, giá trị của hiện vật có thể bị hiểu không đầy đủ, thậm chí bị đặt vào một bối cảnh khác. Vì vậy, quá trình số hóa cần có sự tham gia của những người trực tiếp gìn giữ, thực hành di sản, từ việc xác định nội dung được công khai đến cách thức giới thiệu và sử dụng dữ liệu.
Những câu chuyện này cho thấy, số hóa di sản không chỉ là mở rộng khả năng tiếp cận mà còn đòi hỏi xác định rõ dữ liệu nào có thể công khai, dữ liệu nào cần được kiểm soát, nhất là với những di sản có giá trị và nguy cơ bị xâm hại. Cùng với quyền tiếp cận là yêu cầu về tính chính xác. Khi dữ liệu di sản được đưa lên các nền tảng số và ngày càng được sử dụng làm nguồn cho các công cụ AI, một sai lệch ban đầu có thể tiếp tục được sao chép, lan truyền và tạo ra những cách hiểu không đúng về lịch sử, văn hóa. PGS.TS Phạm Ngọc Trung, chuyên gia văn hóa, nguyên Trưởng khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, cho rằng muốn tập trung dữ liệu, số hóa và đưa lên các nền tảng số thì trước hết phải đặt ra tiêu chí về độ chính xác. Giá trị của tài liệu số hóa phụ thuộc rất lớn vào chất lượng và nguồn gốc tư liệu.
Theo ông, nếu không tiếp cận được tư liệu gốc mà phải sử dụng những tài liệu đã qua sao chép, xuất bản nhiều lần thì sai lệch có thể xuất hiện ở thời gian, không gian, nét chữ, nhân vật hoặc các thông tin lịch sử khác. Khi những dữ liệu này tiếp tục được đưa lên nền tảng số hoặc sử dụng làm dữ liệu cho AI, sai lệch có nguy cơ được nhân lên. Vì vậy, số hóa không chỉ cần nhanh mà phải đúng, có nguồn gốc và có khả năng kiểm chứng; việc đối chiếu tư liệu gốc, xác định nguồn gốc và thẩm định nội dung cần được xem là một phần của quy trình số hóa. Nhưng ngay cả khi dữ liệu được xác thực, việc đưa di sản lên môi trường số vẫn đặt ra yêu cầu về an toàn và bảo vệ dữ liệu.
Số hóa mở thêm một phương thức bảo tồn di sản, giúp lưu trữ, truy xuất và khai thác tư liệu thuận tiện hơn, đồng thời giảm nguy cơ hư hại do tác động vật lý. Nhưng không gian số không phải nơi dữ liệu được bảo vệ tuyệt đối. Khi tư liệu di sản được đưa lên các nền tảng trực tuyến, nguy cơ bị truy cập trái phép, sao chép, chỉnh sửa, xóa hoặc chiếm đoạt luôn hiện hữu, đặc biệt với những dữ liệu có giá trị lịch sử, văn hóa và xã hội. Vì vậy, bảo vệ di sản trong môi trường số không chỉ là bảo đảm dữ liệu không bị mất mà còn phải giữ được tính xác thực và toàn vẹn của tư liệu. Một dữ liệu bị sửa đổi hoặc sai lệch, nếu tiếp tục được chia sẻ và sử dụng trên các nền tảng số, có thể tạo ra những cách hiểu sai về lịch sử, văn hóa và nguồn gốc của di sản. Đây là rủi ro cần được tính đến ngay từ khi xây dựng, lưu trữ và đưa dữ liệu di sản lên môi trường số.
Bảo vệ di sản trong môi trường số không chỉ là bảo đảm dữ liệu không bị mất mà còn phải giữ được tính xác thực và toàn vẹn của tư liệu. Ảnh: Hương Giang
Bảo vệ di sản trong môi trường số không chỉ là bảo đảm dữ liệu không bị mất mà còn phải giữ được tính xác thực và toàn vẹn của tư liệu. Ảnh: Hương GiangĐể thực hiện được yêu cầu số hóa di sản, các đơn vị không chỉ cần dữ liệu được kiểm chứng mà còn phải có đủ năng lực và nguồn lực triển khai. Ảnh: Thu Giang
Tuy nhiên, để thực hiện được yêu cầu đó, các đơn vị không chỉ cần dữ liệu được kiểm chứng mà còn phải có đủ năng lực và nguồn lực triển khai. Theo TS Nguyễn Tri Phương, nhận thức và khả năng ứng dụng công nghệ trong bảo tồn di sản hiện vẫn có sự chênh lệch giữa các đơn vị, địa phương. Các bảo tàng lớn, cơ quan ở tuyến trung ương có điều kiện chủ động ứng dụng AI và các công nghệ số ở quy mô lớn, trong khi tại các bảo tàng địa phương, bảo tàng nhỏ hoặc làng nghề, việc ứng dụng công nghệ vẫn thận trọng hơn. Ông đánh giá thái độ đối với công nghệ nhìn chung là tích cực nhưng chưa đồng đều và chưa đi kèm năng lực triển khai tương xứng với tốc độ phát triển của công nghệ. Năng lực ở đây không chỉ là có thiết bị hay phần mềm, mà còn bao gồm đội ngũ cán bộ có chuyên môn, khả năng vận hành hệ thống và hiểu biết về di sản.
Thực tế, một dự án số hóa di sản cần sự kết hợp của nhiều nhóm chuyên môn: Công nghệ, bảo tồn, lịch sử, Hán Nôm, bảo tàng học và cả những người đang trực tiếp gìn giữ di sản tại cộng đồng. Trong khi đó, nguồn nhân lực vừa hiểu công nghệ vừa có nền tảng về di sản vẫn còn thiếu. Sự chênh lệch cũng thể hiện ở hạ tầng: các đô thị lớn có điều kiện kết nối và thiết bị tốt hơn, trong khi một số khu vực nông thôn, miền núi và những nơi hạ tầng số còn hạn chế vẫn gặp khó về đường truyền, thiết bị và khả năng tiếp cận công nghệ. Nếu không thu hẹp khoảng cách này, chính những cộng đồng đang giữ nhiều lớp di sản quý lại có nguy cơ đứng ngoài quá trình số hóa.
Công nghệ có thể giúp di sản được nhìn thấy rộng hơn, tiếp cận dễ hơn và tạo ra những cách thức phát huy giá trị mới. Nhưng để làm được điều đó mà không làm mất quyền kiểm soát của cộng đồng, không bóp méo giá trị lịch sử và không biến một khoản đầu tư lớn thành hệ thống nhanh chóng lỗi thời, số hóa phải đi cùng những nguyên tắc về quyền tiếp cận, tính xác thực, an toàn dữ liệu, năng lực con người và kế hoạch duy trì lâu dài. Những khoảng cách ấy cho thấy số hóa di sản không thể chỉ trông chờ vào một bước nhảy công nghệ; cần một con đường đủ bền vững để vừa khắc phục hạn chế, vừa phát huy lợi thế của từng thiết chế và cộng đồng.
Nếu những nút thắt lớn nằm ở chuẩn dữ liệu, quyền tiếp cận, cơ chế tài chính và quản trị, kinh nghiệm quốc tế cho thấy câu trả lời không nằm ở một công nghệ duy nhất. Điều đáng học là cách các quốc gia tổ chức dữ liệu, xác lập quyền và tạo đường cho dữ liệu được tái sử dụng có kiểm soát.