Nghị quyết và Cuộc sống

Để mỗi nghị quyết trở thành một chuyển biến trong đời sống...

PGS.TS Bùi Hoài Sơn 03/09/2026 - 18:13

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 nghị quyết, 1 chỉ thị của Bộ Chính trị sáng 3-9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh một yêu cầu rất rõ: Giá trị của nghị quyết phải được đo bằng khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn, bằng sản phẩm cụ thể, bằng sự thay đổi mà Nhân dân có thể cảm nhận được. Đó không chỉ là yêu cầu về tổ chức thực hiện, mà còn là lời nhắc sâu sắc về trách nhiệm của bộ máy, của người đứng đầu và của mỗi cán bộ trong một giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Quang cảnh hội nghị tại điểm cầu Trung ương. Ảnh MediaQuochoi.
Quang cảnh hội nghị tại điểm cầu Trung ương. Ảnh Quochoi.vn

Khi kết quả thực tế trở thành thước đo...

Trong đời sống quản lý, có những lúc chúng ta dễ hài lòng với việc đã ban hành đầy đủ văn bản, đã tổ chức đúng quy trình, đã triển khai các cuộc họp, hội nghị theo kế hoạch. Nhưng nếu sau tất cả những việc ấy, những vướng mắc căn bản vẫn chưa được tháo gỡ, người dân và doanh nghiệp chưa cảm nhận được sự thay đổi, thì mục tiêu cuối cùng của chính sách vẫn chưa đạt được.

Chính vì vậy, điểm nhấn quan trọng trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị sáng 3-9 là yêu cầu chuyển mạnh từ quán triệt sang hành động, từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả. Hội nghị không phải là điểm kết thúc của quá trình học tập nghị quyết, mà là điểm bắt đầu của một giai đoạn quyết định hơn: tổ chức thực hiện.

Thông điệp này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đất nước đang phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ lớn: Phát triển nhanh nhưng bền vững, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng thể chế, tổ chức lại không gian phát triển, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra ngày càng phức tạp.

Trong điều kiện ấy, điều cần nhất không phải là nhiều thêm những khẩu hiệu, mà là một cơ chế thực thi đủ rõ. Ai làm? Làm việc gì? Có đủ thẩm quyền không? Nguồn lực ở đâu? Bao giờ hoàn thành? Sản phẩm cụ thể là gì? Ai chịu trách nhiệm nếu chậm trễ? Chính những câu hỏi tưởng như rất cụ thể ấy lại quyết định chất lượng của cả một chính sách lớn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh yêu cầu mỗi nhiệm vụ phải có mục tiêu, đầu mối chịu trách nhiệm, thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm và dữ liệu kiểm chứng. Đây là một cách tiếp cận rất đáng chú ý, bởi nó làm rõ ranh giới giữa “đã triển khai” và “đã tạo ra kết quả”. Một nhiệm vụ không thể được coi là hoàn thành chỉ vì đã có báo cáo, đã có kế hoạch hay đã tổ chức nhiều cuộc họp. Nó chỉ hoàn thành khi vấn đề thực tế được giải quyết.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những địa bàn lớn, đông dân, có áp lực quản trị cao như Hà Nội. Với một đô thị hơn mười triệu dân, mỗi quyết định về giao thông, môi trường, quy hoạch, văn hóa, giáo dục, y tế hay dịch vụ công đều tác động trực tiếp đến đời sống hằng ngày của người dân. Bởi vậy, chất lượng quản trị không chỉ nằm trong các báo cáo tổng kết, mà thể hiện ở việc người dân có đi lại thuận lợi hơn không, thủ tục có nhanh hơn không, không gian sống có tốt hơn không, di sản có được bảo vệ tốt hơn không, các vấn đề dân sinh có được giải quyết kịp thời hơn không.

Từ góc độ ấy, câu nói “Thời gian là một nguồn lực phát triển không thể tái tạo” có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Trong quản trị đô thị cũng như quản trị quốc gia, một quyết định chậm có thể kéo theo hàng loạt chi phí. Một dự án chậm có thể làm tăng giá thành. Một vướng mắc thể chế kéo dài có thể làm mất cơ hội đầu tư. Một vấn đề dân sinh không được xử lý từ sớm có thể trở thành bức xúc xã hội.

Do đó, tinh thần “việc đã rõ phải làm ngay” cần trở thành một chuẩn mực mới của hành động công vụ.

Trách nhiệm người đứng đầu phải được nhìn thấy bằng kết quả

Nếu nghị quyết là định hướng, thể chế là công cụ, thì con người chính là yếu tố quyết định khả năng biến chủ trương thành hiện thực.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nói rất rõ rằng nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ cầm chừng, né tránh thì công việc vẫn trì trệ. Đây là một nhận xét rất thẳng vào một trong những điểm nghẽn dai dẳng của hoạt động công vụ: Tâm lý sợ trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm, làm việc theo kiểu an toàn cho mình thay vì hiệu quả cho công việc chung.

202609031038249049_z8220720007621_e7a36999e67bf43037e27ba8a904a7b5.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. Ảnh MediaQuochoi.

Bởi vậy, yêu cầu “chọn người theo việc, giao việc để thử thách, lấy kết quả để đánh giá, sử dụng, sàng lọc” có thể xem là một định hướng rất quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ giai đoạn mới.

Cán bộ không thể chỉ được đánh giá bằng việc không mắc khuyết điểm, không có sai phạm, không để xảy ra vấn đề. Nếu chỉ lấy sự an toàn cá nhân làm tiêu chí, rất dễ hình thành tâm lý không làm thì không sai, ít quyết định thì ít rủi ro. Trong khi đó, yêu cầu phát triển đất nước lại cần những con người dám đối diện với việc khó, dám tháo gỡ điểm nghẽn và dám chịu trách nhiệm.

Tinh thần ấy càng quan trọng đối với người đứng đầu. Một bộ máy có thể có nhiều tầng nấc, nhiều quy trình, nhưng cuối cùng vẫn phải có một người chịu trách nhiệm chính. Trách nhiệm người đứng đầu không nên chỉ được hiểu là trách nhiệm khi xảy ra sai phạm, mà trước hết phải là trách nhiệm tạo ra kết quả.

Người đứng đầu phải có mặt ở nơi có vấn đề, phải đối thoại khi có vướng mắc, phải ra quyết định khi thuộc thẩm quyền của mình, phải chịu trách nhiệm đến cùng với quyết định ấy.

Trong bối cảnh Hà Nội đang đứng trước yêu cầu phát triển mạnh mẽ hơn theo tinh thần của Luật Thủ đô mới, đòi hỏi này càng trở nên cấp thiết. Thành phố không thiếu tiềm năng, không thiếu nguồn lực và cũng không thiếu những định hướng lớn. Điều quan trọng là mỗi cơ chế đặc thù có được triển khai đủ nhanh hay không; mỗi chủ trương lớn có được cụ thể hóa thành những dự án, chương trình và sản phẩm thật sự đi vào đời sống hay không.

Hà Nội muốn tạo ra bước phát triển mới thì không thể chỉ dựa vào vị thế của Thủ đô. Vị thế ấy phải được chuyển hóa thành năng lực tổ chức thực hiện tốt hơn, thành chất lượng quản trị cao hơn, thành sự năng động và trách nhiệm cao hơn của bộ máy.

Một đô thị lớn cũng cần một văn hóa công vụ tương xứng: Gần dân hơn, quyết đoán hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn.

Niềm tin không đến từ lời nói mà từ những điều người dân cảm nhận

Một điểm rất đáng chú ý khác trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là sự gắn kết chặt chẽ giữa thực thi chính sách và niềm tin xã hội.

Trong bối cảnh thông tin ngày càng nhiều, tốc độ lan truyền ngày càng nhanh, xã hội cũng ngày càng có điều kiện giám sát bộ máy công quyền trực tiếp hơn. Mỗi quyết định, mỗi chậm trễ, mỗi cách ứng xử với người dân đều có thể trở thành một phép thử đối với niềm tin.

Bởi vậy, truyền thông chính sách ngày nay không thể chỉ là thông tin một chiều. Nó cần được đặt trong một quá trình rộng hơn: giải thích, đối thoại, lắng nghe và điều chỉnh. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu truyền thông chính sách phải kịp thời, chính xác, dễ hiểu; đồng thời phải tạo đồng thuận bằng sự thật, lý lẽ và kết quả thực tiễn.

Đây là một thông điệp có giá trị rất lớn.

Bởi niềm tin xã hội không thể được tạo ra bằng việc nói nhiều về những điều đã làm. Niềm tin được tạo ra khi người dân thực sự nhìn thấy điều đó trong cuộc sống của mình. Một chính sách tốt nhưng giải thích không rõ sẽ khó nhận được sự đồng thuận. Nhưng một chính sách được truyền thông rất tốt mà triển khai kém cũng không thể tạo được niềm tin bền vững.

Cuối cùng, sức thuyết phục lớn nhất vẫn là kết quả.

Một tuyến đường được hoàn thành đúng tiến độ. Một điểm ùn tắc được giải quyết. Một di tích xuống cấp được bảo tồn đúng cách. Một thủ tục hành chính được rút ngắn. Một kiến nghị chính đáng được xử lý. Một không gian công cộng được trả lại đúng chức năng. Một khu dân cư cảm nhận được môi trường sống tốt hơn. Đó chính là những thông điệp chính sách có sức thuyết phục mạnh nhất.

1788406171524_5189902145698231970_g5424620439291575276_6660f6177a625292042ccd2835261f1f.jpg
Quang cảnh hội nghị tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Quang Thái

Trong lĩnh vực văn hóa cũng vậy. Hà Nội là một thành phố có nguồn tài nguyên văn hóa đặc biệt phong phú. Nhưng giá trị ấy chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi được chuyển thành chất lượng sống, thành không gian sáng tạo, thành sản phẩm văn hóa, thành sức hấp dẫn của đô thị và thành niềm tự hào của người dân.

Phát triển du lịch cũng không thể chỉ chạy theo số lượng khách. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh phải chuyển từ số lượng sang chất lượng, lấy văn hóa, bản sắc và trải nghiệm làm lợi thế; không đánh đổi di sản, bản sắc và môi trường lấy tăng trưởng trước mắt.

Đây là một định hướng rất phù hợp với Hà Nội. Một Thủ đô ngàn năm văn hiến không thể cạnh tranh chỉ bằng những công trình mới hay những con số tăng trưởng. Sức hấp dẫn lâu dài phải nằm ở chiều sâu văn hóa, chất lượng không gian sống, cách ứng xử của con người, bản sắc đô thị và những trải nghiệm riêng có không nơi nào khác thay thế được.

Cuối cùng, mọi chính sách đều phải trở về với Nhân dân.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh rằng Nhân dân phải được tham gia, thụ hưởng và là người đánh giá cuối cùng. Đó là một nguyên tắc rất căn bản nhưng cũng là thước đo khó nhất.

Bởi người dân không đánh giá chính sách qua số lượng văn bản được ban hành, mà qua chất lượng cuộc sống của họ. Người dân không đánh giá bộ máy qua số cuộc họp, mà qua việc công việc có được giải quyết hay không. Người dân không đánh giá lời hứa, mà đánh giá kết quả.

Vì thế, để mỗi nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, điều cần nhất lúc này có lẽ chính là hình thành một văn hóa hành động mới trong toàn bộ hệ thống: rõ trách nhiệm, dám quyết định, làm đến cùng và lấy kết quả thực tế làm tiêu chuẩn.

Khi mỗi chủ trương lớn được chuyển hóa thành một thay đổi cụ thể trong đời sống, khi mỗi cán bộ hiểu rằng trách nhiệm của mình cuối cùng phải được đo bằng những điều người dân có thể cảm nhận, khi bộ máy coi thời gian, niềm tin và cơ hội phát triển là những nguồn lực quý giá không được phép lãng phí, thì nghị quyết sẽ không còn chỉ nằm trên giấy.

Nó sẽ trở thành những con đường mới, những dịch vụ tốt hơn, những thiết chế văn hóa hiệu quả hơn, những không gian sống đáng tự hào hơn và, quan trọng nhất, một niềm tin ngày càng vững chắc hơn vào năng lực hành động của Nhà nước.