Tháo gỡ điểm nghẽn, phấn đấu đưa xuất khẩu sầu riêng đạt 4 tỷ USD
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu sầu riêng năm 2026 đạt ít nhất 3,85 tỷ USD, phấn đấu khoảng 4 tỷ USD.
Chiều 3-9, tại họp báo Chính phủ thường kỳ, trả lời câu hỏi của phóng viên về các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu sầu riêng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, trong 7 tháng đầu năm, nhất là trong tháng 8, xuất khẩu nông sản có sự tăng trưởng đáng kể, với kim ngạch ước đạt khoảng 49,3 tỷ USD.

Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, sầu riêng hiện là một trong những mặt hàng có giá trị cao của Việt Nam, với diện tích khoảng 200.000ha, sản lượng khoảng 2,08 triệu tấn. Kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đã tăng rất nhanh trong những năm qua, từ khoảng 177 triệu USD năm 2021 lên 3,85 tỷ USD năm 2025. Sầu riêng hiện đóng góp khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu của ngành trồng trọt.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng ước đạt khoảng 1,95 tỷ USD, trong đó thị trường Trung Quốc đạt khoảng 1,85 tỷ USD, chiếm khoảng 95% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này. Trước thực tế đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu.
Từ ngày 1-7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai truy xuất nguồn gốc trên hệ thống chuyển đổi số của bộ. Qua đó, khách hàng trong nước và quốc tế có thể truy cập thông tin về quá trình trồng trọt, chăm sóc, sử dụng phân bón và các khâu sản xuất của nông sản, trong đó có sầu riêng.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, việc công khai, số hóa thông tin truy xuất nguồn gốc đã góp phần tạo dựng niềm tin đối với khách hàng quốc tế. Các tham tán thương mại của Mỹ, Trung Quốc cũng đánh giá cao việc Việt Nam triển khai truy xuất nguồn gốc trên nền tảng số.
Cùng với đó, Bộ đã tập trung tháo gỡ vướng mắc trong cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Bộ đã trình Chính phủ Nghị quyết về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong cấp mã số vùng trồng đối với các loại cây trồng. Đáng chú ý, việc cấp mã số vùng trồng được phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ cho địa phương. Theo đó, cấp xã, phường được giao thực hiện cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Một tín hiệu tích cực khác là Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã cấp thêm 567 mã số vùng trồng sầu riêng của Việt Nam, nâng tổng số mã số vùng trồng lên hơn 1.800. Hiện, Việt Nam có khoảng 1.599 mã số vùng trồng sầu riêng và 281 cơ sở đóng gói. Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, Bộ đang hoàn tất các thủ tục cần thiết, phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu sầu riêng trong năm 2026 ít nhất đạt mức 3,85 tỷ USD như năm 2025, đồng thời hướng tới mốc 4 tỷ USD.
Tuy nhiên, bên cạnh tốc độ tăng trưởng nhanh, ngành sầu riêng vẫn bộc lộ không ít hạn chế. Đó là diện tích sản xuất chưa gắn chặt với tổ chức chuỗi giá trị; tại một số địa phương còn tình trạng mở rộng diện tích tự phát, chưa tính toán đầy đủ điều kiện đất đai, nguồn nước.
Mối liên kết giữa sản xuất, logistics và xuất khẩu cũng chưa chặt chẽ. Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng nâng cao yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch của dữ liệu. Cạnh tranh quốc tế cũng ngày càng gay gắt khi Malaysia, Thái Lan và nhiều nước trong khu vực đang đẩy mạnh xuất khẩu sầu riêng vào thị trường Trung Quốc.
Để khắc phục những hạn chế trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định 5 nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết là đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tiếp tục đàm phán mở cửa các thị trường tiềm năng như Ấn Độ, Australia, New Zealand; đồng thời tăng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh, sản phẩm chế biến và các sản phẩm phù hợp với nhu cầu từng thị trường.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, trong tháng 7, Ấn Độ đã đồng ý cho Việt Nam xuất khẩu sầu riêng. Đây là thị trường hơn 1 tỷ dân, được đánh giá có nhu cầu lớn, mở thêm dư địa quan trọng cho ngành hàng này.
Thứ hai, tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu bền vững, rà soát quy hoạch vùng trồng phù hợp với điều kiện đất đai, nguồn nước và khí hậu; phát triển hạ tầng vùng nguyên liệu gắn với sơ chế, chế biến, bảo quản, logistics và xuất khẩu. Bộ cũng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu, tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, từng bước xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam.
Thứ ba là chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong sản xuất.
Thứ tư, phát triển hạ tầng bảo quản, chế biến và logistics, khuyến khích đầu tư kho lạnh, cơ sở sơ chế, chế biến tại các vùng sản xuất tập trung; đa dạng hóa sản phẩm, phương thức vận chuyển, ứng dụng công nghệ nhằm giảm chi phí và nâng cao chất lượng.
Thứ năm, nâng cao năng lực hệ thống phòng thí nghiệm, tiếp tục xã hội hóa, đầu tư trang thiết bị và nâng cao năng lực kiểm nghiệm các chỉ tiêu theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu, trong đó có cadimi, vàng O.
Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, Việt Nam vừa đàm phán và được phía Trung Quốc đồng ý công nhận 52 phòng kiểm nghiệm sản phẩm đáp ứng các yêu cầu và điều kiện xuất khẩu. “Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc với cơ quan chức năng để phát triển thêm nhiều phòng kiểm nghiệm đáp ứng yêu cầu kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm trước khi xuất khẩu”, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết.
Từ câu chuyện về sầu riêng, ngành Nông nghiệp đặt yêu cầu chuyển mạnh từ tăng trưởng về sản lượng sang nâng cao chất lượng, tổ chức lại chuỗi giá trị và phát triển bền vững. Đây cũng là kinh nghiệm quan trọng trong xử lý các điểm nghẽn đối với xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, nhất là khi các thị trường quốc tế ngày càng đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn về chất lượng, an toàn và khả năng truy xuất nguồn gốc.