Góc nhìn

Giá trị văn kiện là kết quả thực hiện, nhân dân cảm nhận được

Chí Kiên 03/09/2026 - 16:34

Giá trị văn kiện phải thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, tạo chuyển biến mà nhân dân cảm nhận được.

Tiếp tục cụ thể hóa một cách sâu rộng và hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, sáng 3-9, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các nội dung tại 5 nghị quyết và 1 chỉ thị của Bộ Chính trị.

Với sự tham dự của khoảng 3,7 triệu cán bộ, đảng viên, nội dung các văn kiện là những bước đi cụ thể tiếp theo trên hành trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Tinh thần xuyên suốt của hội nghị đã được quán triệt, đó là: Giá trị văn kiện phải thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, tạo chuyển biến mà nhân dân cảm nhận được.

w_5-1-.jpg
Đảng, Nhà nước ta đang triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách quan trọng để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Ảnh: Viết Thành

1. Vấn đề nổi bật và được nhấn mạnh tại hội nghị là nội dung các văn kiện đều là những vấn đề đặc biệt quan trọng đối với phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong đó, Đảng nhấn mạnh việc thực thi với tư duy đổi mới và hiệu quả phải đo đếm được trong đời sống thực tiễn.

Trước hết, nói về Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13-7-2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới. Chỉ thị mang nội dung đặc biệt quan trọng, định hình phương thức hành động và khơi nguồn động lực tinh thần cho toàn hệ thống chính trị bước vào giai đoạn cách mạng mới.

Trên hết, nội dung Chỉ thị số 07-CT/TW đã trả lời được câu hỏi: Thực hành để tạo ra kết quả gì và đo bằng cách nào?

Cụ thể hóa yêu cầu đó vào thực tiễn đời sống, Đảng triển khai thực hiện chuyên đề toàn khóa về “Học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Chuyên đề có mục tiêu cao nhất là chuyển hóa nhận thức lý luận thành hành động thực tiễn, tạo động lực tinh thần nội sinh để thực hiện thắng lợi Chỉ thị.

Về căn bản, yêu câu cao nhất đặt ra trong triển khai thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW là chuyển mạnh từ nhận thức sang hành động, từ tư duy “làm theo” sang “thực hành” thực chất, hiệu quả đo đếm được. Nói cách khác, việc cụ thể hóa đạo đức công vụ gắn với sản phẩm thực tế và siết chặt kỷ luật thực thi, toàn hệ thống chính trị sẽ tạo ra một xung lực mới: Phá vỡ rào cản trì trệ, quét sạch tư duy an phận, né tránh trách nhiệm, khơi thông điểm nghẽn thể chế, đưa đất nước vững vàng bứt phá.

Thứ hai là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22-8-2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới.

Điểm nổi bật của Nghị quyết này so với các văn kiện có nội dung tương tự trước đây là đặt yêu cầu rộng hơn và cao hơn.

Nếu như trước đây nhấn mạnh yếu tố khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, lần này, Bộ Chính trị đặt vấn đề từ chính phẩm chất và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên: Đã là cán bộ, đảng viên thì phải tiên phong, gương mẫu; phải có tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Tinh thần cốt lõi của Nghị quyết chính là mở đường cho người muốn làm; trao quyền cho người có năng lực; bảo vệ người dám làm vì lợi ích chung; trọng dụng người làm được việc; đồng thời kiên quyết thay thế, sàng lọc những người không làm, không dám chịu trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy, trì trệ.

Thứ ba là Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2-8-2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Có hai điểm nhấn cần nhấn mạnh đối với Nghị quyết số 23-NQ/TW. Một là thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới và sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào Việt Nam ở nước ngoài. Hai là đã cụ thể hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trong tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới của Đảng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sẽ tiếp tục khẳng định được vị thế, tiềm lực, trí tuệ, uy tín và khả năng đóng góp ngày càng lớn của đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ tư là Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28-8-2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.

Một trong những quan điểm phát triển được Đảng ta nhấn mạnh là đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng; chuyển từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt mọi nguồn lực. Bên cạnh đó, tổ chức lại không gian phát triển quốc gia thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước. Về cơ chế liên kết và điều phối vùng, sẽ bảo đảm đồng bộ, liên thông trong quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực...

Thứ năm là Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22-8-2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.

Điểm mới đáng chú ý, Nghị quyết xác lập nhiệm vụ phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, một động lực tăng trưởng mới, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số; lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh, dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Nhiệm vụ tái cơ cấu ngành du lịch sẽ tập trung chuyển mạnh mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm du lịch, dịch vụ gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội. Năng lực quản trị du lịch được đổi mới, nâng cao theo hướng hiện đại, quản trị theo dữ liệu gắn với quy hoạch không gian phát triển, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, di sản.

Trong phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Năm nghị quyết và 1 chỉ thị hợp thành một chỉnh thể thống nhất về quan điểm và hành động. Công tác tư tưởng, học tập và thực hành theo Bác, xây dựng đội ngũ cán bộ tạo nền tảng chính trị, tinh thần, đạo đức, sức chiến đấu. Phát triển vùng, du lịch, công tác người Việt Nam ở nước ngoài mở rộng không gian, khơi thông, kết nối nguồn lực. Tất cả cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống nhân dân”.

2. Quan điểm xuyên suốt trong toàn bộ các văn kiện được quán triệt và triển khai thực hiện là Đảng đặt ra yêu cầu từng chủ trương phải được chuyển hóa thành trách nhiệm, cơ chế và sản phẩm cụ thể, nhân dân cảm nhận được.

Nêu rõ yêu cầu quan trọng này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ nhận thức chung trong toàn Đảng và hệ thống chính trị: “Hội nghị hôm nay không chỉ là quán triệt, mà mở ra giai đoạn quyết định là tổ chức thực hiện. Không được coi học nghị quyết là thủ tục, nghe xong, ban hành kế hoạch là hoàn thành. Giá trị văn kiện phải thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, tạo chuyển biến mà nhân dân cảm nhận được. Từng cấp ủy, cơ quan, địa phương, từng đảng viên phải rõ việc, rõ người, rõ thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm, trách nhiệm; chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, thống nhất nhận thức, nắm vững điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa 6 văn kiện; quán triệt đúng từng văn kiện, kết nối đúng, tổ chức thực hiện đồng bộ, tạo sức mạnh tổng hợp, thống nhất.

Thứ hai, đồng thời hoàn thiện thể chế, phân định thẩm quyền, bảo đảm nguồn lực và quản trị rủi ro; không giao việc trước rồi sau đó mới đi tìm điều kiện thực hiện.

Thứ ba, tạo chuyển biến thực chất về công tác cán bộ, tinh thần tiên phong, trách nhiệm nêu gương và văn hóa thực thi; coi đây là khâu quyết định đưa nghị quyết, chỉ thị vào cuộc sống.

Thứ tư, tổ chức lại không gian và nguồn lực phát triển theo lợi ích tổng thể quốc gia; gắn phát triển vùng, phát triển du lịch với phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng và truyền thông chính sách; siết chặt kỷ luật thực thi; lấy dữ liệu, sản phẩm, chuyển biến thực tế và sự hài lòng của nhân dân làm căn cứ đánh giá.

Có thể thấy, yêu cầu cao nhất được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ ra, đó là việc tổ chức thực hiện. Bởi, giá trị của văn kiện, hiệu quả của từng mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra chỉ thấy được khi được đo đếm bằng những chuyển động thực tiễn, bằng sự thay đổi theo chiều hướng ngày càng tốt hơn trong đời sống nhân dân và trên hết là những thành quả phát triển đất nước.

Do vậy, không có giải pháp nào hiệu quả hơn bằng việc các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo, phương thức tổ chức, năng lực hành động. Chúng ta kiên quyết không thể làm việc theo cách cũ, chậm quyết định, chậm thực thi. Trên hết, phải bắt tay ngay vào công việc trên cơ sở chương trình hành động, kế hoạch thực hiện, mục tiêu cụ thể hóa phải bám sát thực tiễn, phù hợp bối cảnh, không rập khuôn máy móc, làm sao để có chuyển biến từng ngày, từng tháng, từng năm trong từng lĩnh vực công tác.

Thực thi mục tiêu, nhiệm vụ phải có kiểm tra, giám sát. Người đứng đầu chịu trách nhiệm đến cùng, đồng thời bảo đảm liên thông giữa lãnh đạo, thể chế hóa, thực hiện, giám sát. Theo đó, kết quả triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị phải gắn với đánh giá tổ chức Đảng, cán bộ, người đứng đầu. Nơi làm tốt phải nhân rộng, nơi trì trệ phải xử lý nghiêm minh theo quy định. Tinh thần là nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi có sản phẩm, dữ liệu kiểm chứng, hiệu quả thực tế.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức thực hiện phải chứng minh bằng kết quả, sản phẩm được nhân dân nhìn nhận, đánh giá. Người đứng đầu Đảng, Nhà nước chỉ rõ: “Nhân dân phải được tham gia, thụ hưởng và là người đánh giá cuối cùng. Phát huy giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, báo chí, nhân dân; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách. Khi vướng mắc phát sinh trên diện rộng, phải xem xét cả trách nhiệm thực hiện và bất cập cơ chế; không quy mọi hạn chế cho cơ sở, không lấy chính sách bao biện cho yếu kém. Giá trị nghị quyết phải thể hiện ở đời sống và niềm tin của nhân dân”.

Niềm tin của nhân dân và thành tựu phát triển đất nước chính là những kết quả, sản phẩm được tạo ra từ quá trình đưa các nghị quyết, chỉ thị vào cuộc sống. Vì vậy, mỗi văn kiện phải nhanh chóng thành việc cụ thể và giao đúng người, đủ thẩm quyền, đủ nguồn lực, rõ sản phẩm, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm và được kiểm chứng bằng kết quả. Kết quả cuối cùng là phải góp phần làm đất nước giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống tốt hơn, niềm tin vững chắc hơn.