Xanh hóa nền kinh tế, mở dư địa tăng trưởng
“Xanh” đang trở thành tiêu chuẩn mới của tăng trưởng. Từ yêu cầu giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng đến các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, chuyển đổi xanh đang thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh. Nếu biến được sức ép thành động lực đổi mới, chuyển đổi xanh sẽ mở ra dư địa tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Khi tiêu chuẩn xanh trở thành điều kiện vào thị trường
Ngày Quốc khánh 2-9 gợi nhớ dấu mốc mở ra hành trình xây dựng một Việt Nam độc lập. Sau hơn tám thập kỷ, cùng với những thành quả về kinh tế - xã hội, yêu cầu đặt ra cho chặng đường phát triển tiếp theo cũng đã khác, không chỉ tạo ra thêm của cải, mà phải tạo ra tăng trưởng với chất lượng cao hơn, sử dụng ít tài nguyên hơn và giảm sức ép lên môi trường. Trong bối cảnh đó, kinh tế xanh đang dần trở thành một hướng đi mang tính chiến lược.

PGS.TS Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng: Thế giới đang thay đổi mạnh mẽ với những luật chơi mới, trong đó chuyển đổi xanh là một xu hướng không thể đảo ngược. Với Việt Nam, tăng trưởng xanh không chỉ giúp ứng phó biến đổi khí hậu mà còn là cơ hội để thay đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Điểm đáng chú ý là sức ép xanh hóa ngày càng đi từ bên ngoài vào bên trong nền kinh tế.
Với các doanh nghiệp xuất khẩu, yêu cầu về môi trường đã không còn nằm trên giấy. Những tiêu chuẩn liên quan đến phát thải carbon, sử dụng năng lượng, nguyên liệu tái chế hay truy xuất nguồn gốc đang dần trở thành điều kiện để sản phẩm có thể tiếp cận thị trường. Điều đó khiến một doanh nghiệp có thể sản xuất tốt, giá cạnh tranh nhưng vẫn mất đơn hàng nếu không chứng minh được quy trình sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn xanh.
Ông Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI cho rằng: Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đang chủ động hơn trong sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng, quản trị ESG và giảm phát thải carbon. Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu nhìn nhận chuyển đổi xanh không chỉ là chi phí mà còn là cơ hội đổi mới công nghệ, nâng năng suất, tiếp cận nguồn vốn xanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bởi nếu coi xanh hóa chỉ là một nghĩa vụ phải thực hiện, doanh nghiệp thường có xu hướng tìm cách đáp ứng ở mức tối thiểu. Nhưng nếu coi đó là một khoản đầu tư cho tương lai, doanh nghiệp sẽ chủ động thay đổi công nghệ, thiết kế lại sản phẩm, tối ưu quy trình và tìm kiếm những mô hình kinh doanh mới.
Thực tế tại khu vực sản xuất cho thấy quá trình này đã bắt đầu. Một số doanh nghiệp dệt may đã chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo, đầu tư thiết bị tiết kiệm điện và sử dụng nguyên liệu tái chế để đáp ứng yêu cầu của khách hàng quốc tế. Trong ngành bao bì, nhựa, nhiều doanh nghiệp tìm cách giảm nguyên liệu nguyên sinh, tăng tỷ lệ tái chế và xây dựng quy trình thu hồi sản phẩm. Trong nông nghiệp, các mô hình sản xuất tuần hoàn, giảm phân bón hóa học, tiết kiệm nước và giảm phát thải methane đang được quan tâm nhiều hơn.
Ông Nguyễn Văn Nam, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh Bao Bì Tân Thành Đạt chia sẻ: Yêu cầu từ khách hàng quốc tế khiến doanh nghiệp phải thay đổi cách quản lý nguyên liệu, kiểm soát phát thải và đầu tư cho quy trình tuần hoàn. Theo ông Nam, nếu không đáp ứng những tiêu chuẩn mới, doanh nghiệp rất khó duy trì các đơn hàng dài hạn.
Câu chuyện này cho thấy “hàng rào xanh” đang dịch chuyển từ biên giới vào tận nhà máy. Với doanh nghiệp lớn, việc đầu tư công nghệ và hệ thống quản trị có thể khả thi hơn. Nhưng với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây vẫn là bài toán khó. Chi phí đầu tư ban đầu cao, thiếu nhân lực chuyên môn, thiếu dữ liệu về phát thải và khó tiếp cận nguồn vốn xanh khiến không ít doanh nghiệp dù muốn chuyển đổi vẫn còn chần chừ. Vì thế, câu hỏi không còn là doanh nghiệp có cần xanh hóa hay không, mà là làm thế nào để doanh nghiệp có đủ năng lực và động lực để thực hiện.
Không chỉ giảm phát thải, phải tạo ra giá trị mới
Muốn kinh tế xanh trở thành động lực tăng trưởng, chính sách cần đi xa hơn việc đặt ra các mục tiêu giảm phát thải.

Theo các chuyên gia, điều quan trọng là phải hình thành một hệ sinh thái trong đó đầu tư xanh có thể tạo ra lợi ích kinh tế rõ ràng. Khi doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ tiết kiệm năng lượng và giảm được chi phí sản xuất; khi sản phẩm xanh có thể bán với giá trị cao hơn; khi lượng phát thải giảm có thể được định giá trên thị trường carbon, quá trình chuyển đổi sẽ tự tạo ra động lực.
Đây cũng là lý do tín dụng xanh, trái phiếu xanh, thị trường carbon và các cơ chế tài chính bền vững ngày càng được quan tâm.
Theo Ngân hàng Nhà nước, dư nợ tín dụng xanh của hệ thống ngân hàng đã đạt khoảng 828.000 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm. Dòng vốn này cho thấy nhu cầu đầu tư vào các lĩnh vực xanh đang ngày càng lớn.
Tuy nhiên, nguồn vốn chỉ thực sự đến được với doanh nghiệp khi có những tiêu chí rõ ràng để xác định thế nào là một dự án xanh.
Ông Nguyễn Trung Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường cho rằng: Việt Nam đã có nhiều chính sách hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường thông qua đất đai, hạ tầng, vốn và thuế, đồng thời khuyến khích các tổ chức tín dụng ưu tiên tài trợ các dự án xanh. Song, vẫn còn những điểm nghẽn về tiêu chí, dữ liệu, thủ tục và nguy cơ “giả xanh”. Đây là vấn đề cần được giải quyết nếu muốn thị trường vốn xanh phát triển lành mạnh.
Cùng với đó, Việt Nam cần thúc đẩy mạnh hơn sự kết hợp giữa chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Dữ liệu là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp quản lý và tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng. Khi doanh nghiệp có thể đo lường chính xác mức tiêu thụ điện, nguyên liệu, nước và lượng phát thải theo từng công đoạn, việc giảm chi phí và giảm phát thải sẽ không còn dựa trên ước tính mà dựa trên dữ liệu.
Một nhà máy thông minh không chỉ giúp sản xuất nhanh hơn mà còn có thể sản xuất xanh hơn. Một hệ thống logistics số không chỉ rút ngắn thời gian vận chuyển mà còn giảm nhiên liệu. Một nền tảng truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp kiểm soát sản phẩm mà còn cung cấp dữ liệu về quá trình sản xuất cho đối tác. Khi công nghệ trở thành công cụ để sử dụng ít tài nguyên hơn nhưng tạo ra nhiều giá trị hơn, chuyển đổi xanh sẽ trực tiếp đóng góp vào năng suất của nền kinh tế.
Tuy nhiên, để biến sức ép thành động lực, chính sách phải tạo được thị trường cho những sản phẩm và công nghệ xanh. Nhà nước có thể đi đầu thông qua mua sắm công xanh, tiêu chuẩn công trình xanh, phát triển giao thông sạch và thúc đẩy các dự án sử dụng năng lượng hiệu quả. Doanh nghiệp cần chủ động đổi mới công nghệ, còn hệ thống tài chính phải có cơ chế đánh giá và phân bổ vốn phù hợp.
Một nền kinh tế xanh vì vậy không thể được xây dựng chỉ bằng những cam kết giảm phát thải. Nó cần được hình thành từ hàng triệu quyết định kinh tế: doanh nghiệp chọn công nghệ nào, ngân hàng cấp vốn cho dự án nào, người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm nào và Nhà nước tạo ra những ưu đãi, tiêu chuẩn nào.