Những "bông hoa rừng" ngân vang khúc ca Trường Sơn
Giữa mưa bom bão đạn rừng sâu Trường Sơn, dưới ánh lửa lá cọ khô bập bùng thay đèn sân khấu, những cô gái tuổi mười tám, đôi mươi đã cất cao lời ca, tiếng hát át tiếng bom để tiếp sức cho đồng đội, nâng bước hàng vạn chiến sĩ vào trận đánh.
Khói lửa xưa nay đã lùi vào ký ức, những "bông hoa rừng" năm ấy nay lại vỗ về nhau qua bao gian khó, giữ trọn nghĩa tình dẫu mái tóc đã pha sương.
Sân khấu nơi đại ngàn

Năm 1971, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng. Cục Chính trị thành lập Đoàn văn công Trường Sơn và các đội Tuyên truyền văn hóa (Tuyên văn) tại các binh trạm. Hàng trăm chàng trai, cô gái tuổi mười tám, đôi mươi của Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định lần đầu xa nhà đã lên đường vào chiến trường, mang theo tiếng đàn, lời ca thay cho súng đạn.
Trưởng ban Liên lạc Hội Nữ chiến sĩ làm công tác văn hóa, nghệ thuật trên tuyến đường Trường Sơn - Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định (cũ) Đỗ Tuyết An kể: "Hầu hết những người nhập ngũ làm công tác văn hóa - nghệ thuật thời điểm ấy đều là con em các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Hà Nội, sau đó thêm thanh niên Khu 4. Chúng tôi tự hào là những nhân tố nòng cốt xây dựng nên Đoàn Văn công Trường Sơn và các đội Tuyên văn Binh trạm".

Nhớ lại những ngày tháng gian khổ ấy, bà An kể tiếp: "Những ngày đêm hành quân thể lực rã rời. Nhưng vừa đến địa điểm bộ đội tập kết là lập tức dựng phông màn, tuy đơn sơ nhưng náo nức tinh thần đồng đội. Tiếng đàn so dây giữa rừng chiều, tiếng hát chèo mang làn điệu quê hương vào nơi chiến trận đã tiếp sức cho đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, giúp họ cảm thấy mình không xa cách hậu phương".
Mới 17 tuổi, bà Đặng Thị Phụng đã nhập ngũ và làm Tiểu đoàn trưởng đơn vị văn nghệ thuộc Sư đoàn 472, Đoàn 559, cùng đồng đội mang tiếng hát đi khắp các chiến trường Nam Lào. Đêm diễn tại Binh trạm 39 là ký ức bà không bao giờ quên: "Giữa rừng sâu không có điện, buổi biểu diễn diễn ra dưới thứ ánh sáng đặc biệt: lá cọ khô băm nhỏ, đốt lên làm ánh sáng thay đèn. Đang biểu diễn, máy bay của địch ập đến bắn phá, cả đoàn phải sơ tán vào hầm trú ẩn. Một số đồng chí pháo binh đã hy sinh ngay trong trận đánh đó", bà Phụng nghẹn lời nhớ lại.
Giữa ranh giới sống chết mong manh ấy, chính những giai điệu quê hương đã trở thành điểm tựa tinh thần cho cả chiến sĩ lẫn ca sĩ. Sinh ra từ nôi chèo Tức Mặc (Mỹ Lộc, Nam Định cũ), bà Trần Thị Dung nhập ngũ khi mới 18 tuổi cùng hơn 20 thanh niên đồng hương. Bà Dung không thể quên những ngày chống chọi với sốt rét rừng: "Sốt rét hành hạ khổ lắm! Có hôm đến giờ biểu diễn cả mấy chị em đều sốt rét run cầm cập, các anh lại phải làm võng khiêng đi. Nhưng hễ cất lên câu chèo ngọt ngào của quê nhà cho anh em nghe, thấy người lính rạng rỡ hẳn lên là bao nhiêu mệt nhọc như tan biến”.


Cùng với lời ca, những thước phim tài liệu chiến trường cũng theo chân các nữ chiến sĩ chiếu bóng đến từng binh trạm. Trong đội hình chiếu bóng Trường Sơn ngày ấy, những nữ cựu chiến binh như bà Phạm Thị Hồng, bà Mai Thị Điềm (Sư đoàn 472, Đoàn 559) đã cùng đồng đội miệt mài phục vụ bộ đội giữa đêm rừng. Không chỉ đối mặt với nguy hiểm bom đạn, bà Điềm còn phải gùi trên lưng bộ máy chiếu, máy nổ nặng trịch qua những dốc rừng hiểm trở. Bà nhớ lại: "Nó nặng hơn gùi bao gạo ấy! Khi xe chở máy quay đến suối là phải vác. Chúng tôi phải cho hai cái dây quặc vào vai, rồi leo bộ lên đơn vị trên đồi còn khoảng hai cây số nữa”.
Không dừng lại ở gồng gánh thiết bị, dưới ánh đèn hầm, các nữ chiến sĩ còn kiêm nhiệm gần như toàn bộ công đoạn: "Người quay máy nổ, người điều khiển máy chiếu, người tự thuyết minh từng thước phim", bà Hồng chia sẻ. Đêm chiếu khép lại, khi khói bom chưa tan, họ lại vội vã thu dọn máy móc, tiếp tục xuyên rừng cho kịp buổi chiếu ở binh trạm tiếp theo.
Dù đối mặt muôn vàn thiếu thốn và hiểm nguy thời chiến, có đội tuyên văn bị địch đánh phá hỏng hết nhạc cụ, có diễn viên bị thương, họ vẫn kiên cường thực hiện phong trào "Tiếng hát át tiếng bom". Nữ cựu chiến binh Phạm Hồng Luyến tươi cười nhớ lại: "Ngày đó không có sân khấu, chúng tôi tận dụng từng bãi đất phẳng để tập luyện, sàn xe cũng tập. Son phấn hóa trang vô cùng hạn chế nên chị em phải khéo léo họa nét cho nhau. Vậy mà những tiết mục hoành tráng vẫn ra đời ngay giữa chiến trường, giữa những đêm mưa rừng hay cung đường đầy bom đạn, nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt. Vui và tự hào lắm!".

Chiến tranh rồi cũng đi qua, những cô gái tuổi đôi mươi ngày ấy trở về với đời thường. Nhưng câu chuyện Trường Sơn của họ không dừng lại ở đó...
Mái nhà chung ấm áp của nữ văn công
Sau năm 1975, các nữ chiến sĩ văn công Trường Sơn trở về với đời thường. Bà Đỗ Tuyết An hiện là Trưởng ban Liên lạc Hội Nữ chiến sĩ làm công tác văn hóa, nghệ thuật trên tuyến đường Trường Sơn - Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định (cũ), đồng thời là Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn đường Hồ Chí Minh khu vực Long Biên.

Bà An cùng Ban Liên lạc luôn duy trì các hoạt động nghĩa tình thiết thực; thăm hỏi, hỗ trợ hội viên.
Khép lại thời hoa lửa, ký ức Trường Sơn và hình ảnh những đồng đội vĩnh viễn nằm lại nơi góc rừng, bãi đá vẫn luôn đau đáu trong lòng người nữ cựu chiến binh Đặng Thị Phụng. "Chúng tôi vẫn nhớ đến những đồng đội đã gửi thân lại chiến trường... Cùng đi, cùng sinh hoạt với nhau, bây giờ chỉ có chúng tôi may mắn được trở về. Cho nên nghĩa tình đồng đội cao cả lắm”. Nói đến đây, bà Phụng nghẹn ngào. Vì vậy, bà coi việc tri ân đồng đội là trách nhiệm sâu nặng, hằng năm vẫn cùng các cựu chiến binh tổ chức những chuyến đi thăm lại chiến trường xưa, trao quà cho gia đình các liệt sĩ.

Bên cạnh công tác nghĩa tình, hoạt động phong trào của lực lượng văn nghệ sĩ Trường Sơn cũng diễn ra sôi nổi, với trên 100 buổi biểu diễn phục vụ các nhiệm vụ chính trị mỗi năm. Như lời ghi nhận của Trưởng ban Công tác nữ, Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam Ngô Thị Tuyết: “Trở về đời thường, các chị em vẫn tiếp tục cống hiến, vẫn hát, vẫn múa, vẫn mang lời ca tiếng hát đến với đồng đội và cộng đồng. Mỗi lời ca vang lên hôm nay không chỉ là một tiết mục văn nghệ, mà đó là câu chuyện về tuổi trẻ từng sống, chiến đấu trên tuyến đường huyền thoại; là câu chuyện về những người nữ chiến sĩ Trường Sơn kiên cường, giàu nghị lực và luôn biết sống vì đồng đội".

Năm mươi lăm năm đã trôi qua kể từ ngày nhập ngũ, những cô văn công xinh tươi ngày ấy nay đã ở tuổi thất thập, là bà nội, bà ngoại. Tuổi tác làm mái tóc bạc đi, bước chân chậm lại, nhưng tình đồng đội Trường Sơn thì không hề phai nhạt. Từng đứng chung một sân khấu giữa rừng, giữa bom đạn, nay họ vẫn tìm về với nhau, vẫn cất cao lời ca, vẫn nhắc nhớ những tên đất, những nẻo đường, những cánh rừng đã che chở mình, và nhắc nhớ cả những đồng đội đã không thể trở về...