Văn nghệ

Nhớ ngày độc lập qua từng vần thơ

Đặng Huy Giang 02/09/2026 - 06:03

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những bước ngoặt lớn nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới: Người dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.

Nước Việt Nam từ một dân tộc bị áp bức bước vào thời đại độc lập, tự do. Thắng lợi ấy không chỉ có ý nghĩa về chính trị và lịch sử mà còn tạo nên một sự chuyển biến sâu sắc trong đời sống tinh thần, đặc biệt là trong văn học nghệ thuật.

Với thi ca Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám như một luồng sinh khí mới, làm thay đổi cảm hứng sáng tác, quan niệm về con người và mối quan hệ giữa nhà thơ với cuộc đời.

Nhiều nhà thơ tìm thấy một nguồn cảm hứng mới từ hiện thực cách mạng và từ cuộc sống của nhân dân, khiến thơ không còn chỉ là tiếng nói của một tâm hồn riêng mà còn trở thành tiếng nói của cộng đồng, của lịch sử.

Đặc biệt, Cách mạng Tháng Tám đã đem đến cho thơ một niềm tin mạnh mẽ vào con người và tương lai, tạo cảm hứng lớn cho nhiều nhà thơ sáng tác nhiều áng thơ có giá trị.

Trong số những sáng tác thành công ấy, phải kể đến “Sáng 2-9”, “Huế tháng Tám” của Tố Hữu; “Người đi tìm hình của nước”, “Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi” của Chế Lan Viên; “Nhớ về Hà Nội vàng son” của Vũ Hoàng Chương; “Ngọn quốc kỳ” của Xuân Diệu; “Núi rừng Việt Bắc” của Nguyễn Đình Thi...

Ngay từ khi Bác Hồ hướng về Tổ quốc, trong “Người đi tìm hình của nước”, Chế Lan Viên đã linh cảm đến một cuộc cách mạng và nhà thơ đã sớm mường tượng ra: “Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt/ Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi/ Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất/ Lắng nghe trong màu hồng, hình đất nước phôi thai”. “Lắng nghe màu hồng, hình đất nước phôi thai” là chi tiết đáng chú ý cho sự linh cảm ấy.

Ba tác phẩm viết trực tiếp về ngày 19-8 và 2-9 thuộc về “Sáng 2-9”, “Huế tháng Tám” và “Nhớ về Hà Nội vàng son”. Đây là đổi thay lớn nhờ cuộc Tổng khởi nghĩa 19-8 đem lại: “Ngực lép bốn ngàn năm/ Trưa nay, cơn gió mạnh/ Thổi phồng lên/ Tim bỗng hóa mặt trời” (“Huế tháng Tám” - Tố Hữu).

Đây là kỷ niệm của đồng bào với lãnh tụ thật thân thương, gần gũi trong ngày 2-9 ở Hà Nội (“Sáng 2-9” - Tố Hữu): “Độc lập bây giờ mới thấy đây!/ Người đọc tuyên ngôn... Rồi chợt hỏi: “Đồng bào nghe tôi nói rõ không?”/ Ôi câu hỏi, hơn một lời kêu gọi/ Rất đơn sơ mà ấm bao lòng!/ Cả muôn triệu một lời đáp: Có!/ Như Trường Sơn say gió biển Đông/ Vâng, Bác nói, chúng con nghe rõ/ Mỗi tiếng Người mang nặng núi sông...".

Vũ Hoàng Chương nhớ lại ngày 2-9 tại Hà Nội năm 1945 và ông gọi đấy là những khoảnh khắc vàng son. Trong bài “Nhớ về Hà Nội vàng son”, nhà thơ viết trong niềm cảm xúc dào dạt, trong sự náo nức vô bờ bến: “Ôi ngày mười chín, ngày oanh liệt!/ Sóng đỏ hoa vàng khắp bốn phương/ Hà Nội tiếng reo hò bất tuyệt/ Vang sang bờ nọ Thái Bình Dương.../ Ba mươi sáu phố, ngày hôm ấy/ Là những nhành sông đỏ sóng cờ/ Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại/ Năm cánh hoa xòe trên năm cửa ô”.

Nhưng có lẽ, ấn tượng nhất là 2 chi tiết thơ có liên quan đến Cách mạng Tháng Tám và lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.

Đó là 2 câu thơ trong “Huế tháng Tám” của Tố Hữu: “Ngực lép bốn ngàn năm/ Trưa nay cơn gió mạnh/ Thổi phồng lên tim bỗng hóa mặt trời” tạo nên một ẩn dụ rất mạnh về sự thức tỉnh của dân tộc. “Ngực lép bốn ngàn năm” gợi một lịch sử dài của thân phận nhỏ bé, chịu đựng... Nhưng “cơn gió mạnh” của thời đại đã thổi vào, làm “tim” bỗng hóa “mặt trời”, từ mặc cảm, âm thầm chuyển sang tự tin, rực sáng, tượng trưng cho sức mạnh của dân tộc vào thời khắc đáng ghi nhớ.

Đó là 4 câu thơ trong “Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi” của Chế Lan Viên: “Ôi giữa lòng ta Bác đến từ hồi nào/ Người vĩ đại mà chẳng làm ai kinh ngạc/ Một buổi sáng, nhìn lòng ta, ta thấy Bác/ Nước mắt ràn, ta cảm hết ơn sâu”.

Đoạn thơ có một vẻ đẹp chân thành, bất ngờ và giàu sức lay động. Cái hay nhất nằm ở câu: “Một buổi sáng, nhìn lòng ta, ta thấy Bác”. Ở đây, Bác không xuất hiện từ bên ngoài mà đã hiện hữu trong chính chiều sâu tâm hồn người viết.

Câu “Người vĩ đại mà chẳng làm ai kinh ngạc” cũng rất đáng chú ý: Cái vĩ đại của Bác không gây choáng ngợp mà thấm vào lòng người một cách tự nhiên, lặng lẽ. Đến câu cuối: “Ta cảm hết ơn sâu” thì nước mắt thực sự trở thành sự kết tinh của lòng biết ơn.