Làng Bắc Biên
Xã hội - Ngày đăng : 15:20, 29/01/2008
(HNMO)- Bắc Biên là một làng nhỏ nằm bờ trái sông Hồng, sát ngã ba sông Đuống, cách trung tâm thành phố khoảng 6 km. Tên gọi “Bắc Biên” có nghĩa từ đó. Bắc Biên trước đây có nguồn gốc từ làng An Xá - một làng ở phía Nam hồ Dâm Đàm (Hồ Tây).
Bài Minh trên chuông chùa của làng đúc năm Chính Hòa thứ 11 (Canh Ngọ, 1690) cho biết, do làng Bắc Biên từ nội thành phải di dời ra bãi nên không có ruộng cấy lúa, dân chuyển sang nghề trồng dâu nuôi tằm, hàng năm phải chịu thuế dâu, nên được miễn trừ việc đắp đê, thuế đường, thuế đò và các khoản sưu dịch…. Chỗ đất cũ thì dùng để lập điện nhà vua, dùng vào việc thờ cúng Phật. Nay được lòng trời mến tựa, đất tổ truyền phúc sinh vị Ngô Quảng Châu (tức Ngô Tuấn hay Lý Thường kiệt) trong cung vua tâu xin sắc chỉ ghi rõ địa giới, đúng như số ruộng đất được miễn thuế bộ truyền lại muôn đời.
Thời Nguyễn, Bắc Biên - Cơ Xá thuộc phường Cơ Xá, huyện Thọ Xương (tỉnh Hà Nội), năm 1851 Kinh lược sứ Nguyễn Đăng Giai đề nghị chuyển về huyện Gia Lâm (tỉnh Bắc Ninh).
Thời Pháp thuộc, do địa hình ven sông Hồng nên phường Cơ Xá (từ năm 1899 thuộc tổng Phúc Lâm, huyện Hoàn Long) phải chuyển đi chuyển lại. Năm 1911, bộ phận làng Cơ Xá ở bờ phải sông Hồng thuộc Hà Nội và có tên Phúc Xá (gồm các bãi : An Dương, Nghĩa Dũng, Phúc Xá ở phía trên cầu Long Biên và Bắc Biên thuộc Hà Nội). Bộ phận ở ở bên trái sông (Cơ Xá Nam) thuộc huyện Gia Lâm (tỉnh Bắc Ninh). Việc chia này không được dân đồng tình vì không chú ý đến các đặc thù về mối quan hệ họ hàng, tổ chức phe giáp và lối sống truyền thống của một vùng bãi luôn chịu tác động của việc dịch chuyển dòng chảy sông Hồng (dân làng sống xen ở khắp nơi, dù ở bờ phải hay bờ trái sông Hồng đều coi nhau như một làng, ít nhiều có quan hệ họ hàng với nhau, sinh hoạt phe giáp cùng với nhau). Làng Bắc Biên tập trung nhiều dòng họ, trong đó đông nhất là họ : Lê Đăng, Nguyễn Ngọc.
Qua nhiều lần dịch chuyển của dòng chảy sông Hồng, xã Phúc Xá chỉ còn Bãi Giữa và Bắc Biên, song do Bãi Giữa chịu nhiều tác động của lũ lụt nên những bộ phận dân cư chủ yếu của xã Phúc Xá đều chuyển dần về Bắc Biên. Đặc biệt, vào cuối thập niên 10, đầu thập niên 20 của thế kỷ XX, nhiều đợt giải tỏa những khu nhà tranh trong nội thành (Ngũ Xã, Cửa Bắc, Đồn Thủy…), nhiều gia đình nghèo chuyển cư ra Bãi Giữa, song vì hàng năm bị lụt lội nên những gia đình khá giả tạu đất xây nhà ở Bắc Biên. Bắc Biên trở thành thôn trù phú của Phúc Xá.
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Phúc Xá đổi thành một khu (như một xã lớn) thuộc Liên khu I nội thành Hà Nội. Năm 1957, tách làng Phúc Xá gốc thành hai thôn Bắc Biên và Trung Hà (thôn này ở giữa bãi sông Hồng, dân mới chuyển cư ra trong thời kỳ Pháp tạm chiếm). Năm 1961, hai thôn này hợp nhất với các thôn Bắc Cầu, Yên Tân, Gia Thượng, Gia Quất thành xã Ngọc Thụy huyện Gia Lâm. Tháng 11 - 2003, xã Ngọc Thụy đổi thành phường thuộc quận Long Biên.
Năm 1975, để chuẩn bị giải phóng lòng chảy sông Hồng, dân Bãi Giữa phải chuyển đi. Một bộ phận lớn được cấp đất ở khu Hồ Sen làng Bắc Biên, trên đường vào làng Gia Quất, mỗi nhà được 200 mét vuông. …
Bắc Biên trước kia có đình chùa ở Bãi Giữa sông Hồng, sau chuyển về dựng ở trên bờ đất liền bờ sông; hiện còn ngôi chùa An Xá, hoặc Phúc Xá ở tổ 7 phường Ngọc Thụy. Do sự biến động của dòng chảy sông Hồng nên ngoài Bắc Biên, chùa này gắn với các làng : An Xá, Cơ Xá, Phúc Xá. Chùa được dựng từ rất sớm để thờ Phật theo phái Tào Động – một trong năm phái của động Thiền tông mà vị sư tổ thứ nhất của phái này là Hoàng Thượng Thủy Nguyệt. Trong chùa còn lưu quả chuông được đúc năm 1690 (đã nêu trên), chứng tỏ chùa được dựng trước thời điểm này khá lâu. Tuy nhiên, kiến trúc và điêu khắc của các hạng mục công trình trong chùa hiện nay đều mang phong cách Nguyễn. Chùa có kết cấu chữ “Đinh”, gồm Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện.
Làng Bắc Biên hiện còn có ngôi đền Mẫu, tên chữ là “Phúc Xá linh từ”, tại số nhà 21, tổ 9, phường Ngọc Thụy. Đền nằm sát sông Hồng, phía trước có lạch nước rộng, ngoài lạch nước có bãi nổi nối với dòng sông lớn, tạo thành thế “tụ thủy” rất hữu tình. Gọi là đền Mẫu nhưng ngoài việc thờ Tam tòa Thánh Mẫu ở trong hậu cung, còn thờ các vị thần của đạo Giáo ở ngoài Tiền tế như Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu Ngũ vị Tôn ông, các Quan hoàng, Đức Thánh Trần, Sơn Trang … Đền Mẫu phản ánh tục thờ Mẹ Nước (Mẫu Thoải) kết hợp với việc trừ ma thuật của cư dân vùng sông nước.
Ngoài ra, làng còn có đền Rừng ở tổ 10, là đền thờ Mẫu Thượng Ngàn (Mẹ Rừng Xanh); đền Núi ở tổ 9, chủ về Thượng Thiên (Mẹ Trời).
PGS, TS. Bùi Xuân Đính