Kinh tế

Làm sạch mã số thuế: Cần cơ chế tháo gỡ cho doanh nghiệp đã rời thị trường

Phương Nga 28/08/2026 - 12:00

Ngừng kinh doanh nhiều năm, không còn doanh thu nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thể “đóng cửa” về pháp lý vì vướng hồ sơ, tiền phạt và tiền chậm nộp. Chiến dịch làm sạch mã số thuế vì thế cần một lối thoát thực chất cho những doanh nghiệp đã rời thị trường.

Muốn đóng cửa, doanh nghiệp lại vướng nhiều thủ tục và tiền phạt

Anh N.V.D một chủ doanh nghiệp từng hoạt động trong ngành thiết kế nội thất tại Hà Nội cho biết, công ty của anh đã dừng hoạt động nhiều năm do kinh doanh không hiệu quả. Sau khi đóng cửa, doanh nghiệp không phát sinh doanh thu, không ký thêm hợp đồng, cũng không có hoạt động kinh doanh mới. Tuy nhiên, do không nắm rõ quy định, anh không thực hiện đầy đủ thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

Đến khi được tuyên truyền về chiến dịch làm sạch mã số thuế, anh mới tìm hiểu để hoàn tất thủ tục. Điều khiến anh bất ngờ là ngoài việc phải rà soát, bổ sung nhiều hồ sơ cũ, doanh nghiệp còn có thể phát sinh các khoản lệ phí, tiền chậm nộp và tiền phạt do chậm nộp hồ sơ khai thuế lên đến hàng chục triệu đồng.

“Doanh nghiệp đã không còn hoạt động, nhưng muốn đóng lại thì phải tìm lại hồ sơ từ nhiều năm trước. Kế toán cũ đã nghỉ, giấy tờ cũng không còn đầy đủ. Nếu thuê dịch vụ xử lý thì lại thêm một khoản chi phí không nhỏ”, anh N.V.D chia sẻ.

1-1767259305.jpeg
Hình minh họa. Ảnh: PV

Đây cũng là vấn đề đang được bàn luận sôi nổi trên các diễn đàn về thuế - kế toán. Có ý kiến cho rằng, doanh nghiệp đã thua lỗ, phá sản, ngừng hoạt động nhiều năm thì khả năng tài chính gần như không còn. Nếu để các khoản phạt, tiền chậm nộp tiếp tục cộng dồn, chủ doanh nghiệp càng khó có khả năng hoàn tất thủ tục giải thể.

Theo số liệu của chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, khoảng 617.000 doanh nghiệp thuộc diện rà soát, trong đó khoảng 291.962 doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất giải thể và khoảng 325.500 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, có nợ thuế.

Con số này cho thấy đây không còn là câu chuyện của một vài doanh nghiệp “quên” đóng mã số thuế, mà là một vấn đề có quy mô lớn cần được xử lý bằng chính sách phù hợp.

Theo bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, những năm qua, số doanh nghiệp, hộ kinh doanh ngừng hoạt động nhưng chưa thực hiện quyết toán thuế hoặc thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế có xu hướng gia tăng. Trong số này có cả những trường hợp thiếu hiểu biết pháp luật, kinh doanh không hiệu quả rồi bỏ lại mã số thuế; nhưng cũng có trường hợp cố tình lợi dụng cơ chế thông thoáng để thành lập doanh nghiệp “ma”, bỏ địa chỉ kinh doanh hoặc mua bán hóa đơn. Vì vậy, điều quan trọng là không thể đánh đồng hai nhóm này.

Ngừng hoạt động thực tế không đồng nghĩa với việc đương nhiên chấm dứt mã số thuế. Doanh nghiệp vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định. Tuy nhiên, trạng thái mã số thuế 03 - “người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế” - cũng không đồng nghĩa doanh nghiệp mặc nhiên vẫn kinh doanh và phát sinh doanh thu trong toàn bộ thời gian chưa đóng mã số thuế.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng, nghĩa vụ thuế phải được xác định trên cơ sở hoạt động thực tế, doanh thu, giao dịch và căn cứ tính thuế của từng thời kỳ. Nếu doanh nghiệp chứng minh được đã thực sự ngừng kinh doanh, không có doanh thu, không phát sinh giao dịch thì không thể chỉ căn cứ vào trạng thái mã số thuế để mặc nhiên xác định thêm doanh thu và nghĩa vụ thuế.

Cần một lối ra cho doanh nghiệp thực sự không còn hoạt động

Làm sạch mã số thuế là yêu cầu cần thiết. Những mã số thuế của doanh nghiệp không còn hoạt động nhưng vẫn tồn tại trên hệ thống không chỉ làm sai lệch dữ liệu quản lý mà còn có thể bị lợi dụng để mua bán hóa đơn, thành lập doanh nghiệp “ma” hoặc thực hiện các giao dịch bất hợp pháp.

Với doanh nghiệp vẫn hoạt động, có doanh thu nhưng cố tình không kê khai, bỏ địa chỉ để né tránh nghĩa vụ hoặc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, việc truy thu và xử phạt nghiêm là cần thiết.

Ngược lại, với doanh nghiệp đã thực sự ngừng hoạt động nhiều năm, không có doanh thu, tài sản, giao dịch và không có dấu hiệu gian lận, cần có cơ chế xử lý khác.

Trước hết, cơ quan quản lý có thể khai thác dữ liệu hóa đơn điện tử, ngân hàng, cổng thanh toán, sàn thương mại điện tử, hồ sơ khai thuế và các nguồn dữ liệu liên quan để xác định thời điểm doanh nghiệp thực sự ngừng hoạt động. Khi nhiều nguồn dữ liệu cùng cho thấy doanh nghiệp không còn hoạt động, đây phải là căn cứ quan trọng để phân loại.

Trên cơ sở đó, có thể nghiên cứu thủ tục giải thể, chấm dứt mã số thuế rút gọn đối với doanh nghiệp “ngủ đông” trong thời gian dài, không có nợ thuế đáng kể và không có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng. Chủ doanh nghiệp có thể thực hiện cam kết về trách nhiệm đối với các nghĩa vụ còn tồn tại, thay vì phải khôi phục một khối lượng lớn hồ sơ cũ chỉ để hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế.

Đối với những khoản thuế thực tế còn nợ trước thời điểm ngừng hoạt động, vẫn cần thu đủ theo quy định. Tuy nhiên, các khoản phạt phát sinh đơn thuần do chậm nộp tờ khai trong nhiều năm mà doanh nghiệp chứng minh được không hoạt động thực tế cần được nghiên cứu xử lý phù hợp hơn với bản chất vi phạm.

Đặc biệt, có thể xem xét cơ chế hành chính riêng đối với những doanh nghiệp đã không còn tồn tại trong đời sống kinh doanh trong thời gian rất dài, không có tài sản, không có tranh chấp và không có nghĩa vụ thuế đáng kể. Sau thời gian công khai thông tin, nếu không phát sinh khiếu nại hoặc dấu hiệu vi phạm, có thể cho phép hoàn tất thủ tục chấm dứt theo quy trình đơn giản hơn.

Theo luật sư Nguyễn Văn Tuấn, quản lý thuế hiện đại cần dựa trên phân loại rủi ro: Người thực sự không còn kinh doanh thì tạo điều kiện để hoàn tất thủ tục; người vẫn kinh doanh nhưng cố tình không kê khai thì phải xử lý nghiêm.

Đây cũng nên là mục tiêu cuối cùng của chiến dịch làm sạch mã số thuế. Thành công không chỉ là đưa hàng trăm nghìn mã số thuế về đúng trạng thái trên hệ thống, mà còn phải giúp những doanh nghiệp đã thực sự kết thúc hoạt động có thể rút lui khỏi thị trường một cách hợp pháp, minh bạch và khả thi.