Bài toán phát triển xi măng carbon thấp tại Việt Nam
Ngành xi măng Việt Nam đứng trước bài toán giảm phát thải nhưng một hướng đi như xi măng đất sét nung (LC3) chỉ có thể phát triển khi giải được cả câu chuyện nguyên liệu, dây chuyền sản xuất và đầu ra cho sản phẩm.
Giảm lượng clanhke, tận dụng dây chuyền sẵn có và mở rộng thị trường tiêu thụ là ba bài toán ngành xi măng Việt Nam cần giải để giảm phát thải.
Đây là những vấn đề được các chuyên gia tập trung thảo luận tại Hội thảo “Xi măng đất sét nung (LC3) - Ứng dụng và thực tiễn” ngày 27-8.

LC3 (Limestone Calcined Clay Cement) thay thế một phần clanhke bằng đất sét nung và đá vôi, qua đó giúp giảm lượng CO₂ phát sinh trong sản xuất xi măng.
Tuy nhiên, không phải loại đất sét nào cũng phù hợp. Theo các chuyên gia, doanh nghiệp cần khảo sát, lấy mẫu và thử nghiệm nguồn nguyên liệu trước khi đầu tư.
TS. Looi Wan Leong, Giám đốc Kỹ thuật Khu vực Đông Nam Á của CBMI Construction Co., Ltd., cho rằng quá trình này cần thực hiện từng bước, từ nghiên cứu nguyên liệu, thử nghiệm trong phòng thí nghiệm đến sản xuất thí điểm.
Việc vận hành thử giúp xác định độ phù hợp của đất sét và khả năng duy trì chất lượng, trước khi đầu tư quy mô lớn.
Ông Benjamin Müller, Đại biện lâm thời của Đại sứ quán Thụy Sĩ tại Việt Nam, nhận định: “LC3 cho thấy nghiên cứu, hợp tác quốc tế và đổi mới sáng tạo trong công nghiệp có thể kết hợp với nhau để giải quyết các thách thức khí hậu. Thụy Sĩ vui mừng hỗ trợ trao đổi kiến thức và các quan hệ đối tác góp phần vào quá trình phát triển công nghiệp bền vững của Việt Nam”.
Đối với Việt Nam, đây là yếu tố đáng chú ý khi ngành xi măng đã có hệ thống nhà máy và dây chuyền sản xuất lớn. Một số dây chuyền đang nhàn rỗi hoặc chưa khai thác hết công suất có thể được tận dụng để sản xuất đất sét nung.

Nói cách khác, thay vì đầu tư lại từ đầu, doanh nghiệp cần xác định nguồn đất sét phù hợp và tận dụng tối đa hạ tầng sản xuất sẵn có.
Giải được công nghệ nhưng vẫn phải có đầu ra
PGS.TS. Lương Đức Long, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng các-bon thấp (LCCA), cho rằng doanh nghiệp cần vốn để đầu tư, nhưng trước hết phải xác định được đầu ra cho sản phẩm.
Việt Nam đã có tiêu chuẩn cho phép sử dụng đất sét nung trong một số loại xi măng. Tuy nhiên, sản phẩm vẫn cần được thị trường chấp nhận.
Theo bà Lê Thị Thanh Thảo, Đại diện Quốc gia của UNIDO tại Việt Nam, việc mở rộng ứng dụng LC3 đòi hỏi giải quyết đồng thời các vấn đề về chính sách, tiêu chuẩn, công nghệ, vốn và thị trường.

Bà cho rằng mua sắm công xanh có thể tạo thêm nhu cầu cho vật liệu carbon thấp. Nếu những sản phẩm giảm phát thải có thêm cơ hội tham gia các công trình sử dụng ngân sách nhà nước, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để tính toán đầu tư.
Cùng với đó, chất lượng và độ bền của LC3 cần tiếp tục được kiểm chứng trong thực tế. Những kết quả này sẽ giúp hoàn thiện tiêu chuẩn và tạo niềm tin cho người sử dụng.

Ông Hoàng Hữu Tân, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, cho rằng khi xem xét LC3 cần đánh giá từ nguồn đất sét, cách nung, cách phối trộn đến chất lượng, độ bền, hiệu quả kinh tế và khả năng được thị trường chấp nhận.
Như vậy, một loại xi măng carbon thấp muốn được sử dụng rộng rãi phải đáp ứng đồng thời yêu cầu về chất lượng, giá thành và khả năng sản xuất ổn định.
Đưa công nghệ từ nghiên cứu vào sản xuất

LC3 được phát triển từ các nghiên cứu tại Trường Bách khoa Liên bang Lausanne (EPFL), Thụy Sĩ. Hợp tác quốc tế có thể giúp Việt Nam tiếp cận kinh nghiệm và lựa chọn công nghệ phù hợp với điều kiện trong nước.
Theo bà Lê Thị Thanh Thảo, UNIDO sẽ tiếp tục hỗ trợ kết nối các bên liên quan nhằm thúc đẩy ứng dụng LC3, góp phần giảm phát thải và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành xi măng.
Trước mắt, ngành xi măng cần giải đồng thời ba bài toán, bao gồm tìm nguồn đất sét phù hợp, lựa chọn công nghệ tận dụng được hạ tầng sẵn có và tạo thị trường cho sản phẩm. Khi ba yếu tố này được giải quyết, LC3 mới có thể đi từ nghiên cứu, thử nghiệm sang sản xuất quy mô lớn tại Việt Nam.