Thế giới

Lạm phát trở lại thách thức các ngân hàng trung ương

Ngọc Lâm 26/08/2026 - 20:00

Nguy cơ lạm phát tăng trở lại đang đặt các ngân hàng trung ương trước những lựa chọn khó về lãi suất, trong bối cảnh sức ép đối với mỗi nền kinh tế ngày càng khác biệt.

Một năm trước, câu chuyện tại Hội nghị kinh tế quốc tế Jackson Hole, sự kiện thường niên do Ngân hàng Dự trữ Liên bang Kansas City tổ chức tại bang Wyoming (Mỹ), còn xoay quanh triển vọng hạ lãi suất.

Năm nay, khi các lãnh đạo ngân hàng trung ương, nhà kinh tế và giới tài chính một lần nữa hội tụ từ ngày 28-8, mối quan tâm đã đổi chiều, bởi chiến tranh Iran, giá năng lượng, làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) và thời tiết cực đoan đang khiến lạm phát trở lại thành một trong những vấn đề lớn nhất trong tính toán chính sách.

jackson-hole.jpg
Cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Jerome Powell (trái) cùng Thống đốc Ngân hàng Trung ương Canada Tiff Macklem và Thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh Andrew Bailey tại Hội nghị Jackson Hole năm 2024. Ảnh: Ngân hàng Dự trữ Liên bang Kansas City.

Fed trước những tín hiệu trái chiều

Lần đầu phát biểu tại Jackson Hole trên cương vị Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), ông Kevin Warsh sẽ là tâm điểm chú ý của hội nghị năm nay. Thị trường đang chờ đợi cách chủ tịch Fed đánh giá tình hình lạm phát và khả năng đưa tỷ lệ này trở lại mục tiêu 2%, qua đó tìm kiếm manh mối về hướng đi của lãi suất trong những tháng tới.

Lựa chọn của Fed trở nên khó khăn bởi chưa dễ xác định lạm phát hiện nay chủ yếu bắt nguồn từ những cú sốc nhất thời hay những vấn đề sâu hơn trong nền kinh tế. Thuế quan, chiến tranh Iran và biến động giá năng lượng có thể khiến giá cả tăng trong một thời gian rồi dần hạ nhiệt, bởi nếu vậy, tăng lãi suất có nguy cơ gây thêm sức ép không cần thiết lên tăng trưởng.

Nhưng nếu nhu cầu vẫn đủ mạnh để doanh nghiệp chuyển chi phí gia tăng sang giá bán, cộng với làn sóng đầu tư hạ tầng AI làm tăng nhu cầu về vốn, điện và thiết bị, lạm phát có thể kéo dài và buộc Fed phải tính tới việc tiếp tục thắt chặt chính sách.

Những số liệu gần đây chưa giúp giải quyết tranh luận này, khi Fed vẫn giữ lãi suất trong khoảng 3,5-3,75%, còn lạm phát cao hơn mục tiêu 2%. Thị trường lao động lại có dấu hiệu hạ nhiệt, trong khi ngay trong Fed cũng xuất hiện bất đồng về hướng đi tiếp theo khi ba thành viên bỏ phiếu ủng hộ tăng lãi suất tại cuộc họp tháng 7.

Giữa những tín hiệu trái chiều ấy, cách điều hành của Kevin Warsh càng được chú ý. Kể từ khi thay người tiền nhiệm Jerome Powell vào tháng 5, ông hạn chế đưa ra chỉ dẫn cụ thể về hướng đi của lãi suất, với quan điểm ngân hàng trung ương không nên để những dự báo của mình bị thị trường hiểu thành cam kết. Cách tiếp cận này giúp Fed linh hoạt hơn khi triển vọng kinh tế còn bất định, nhưng cũng khiến nhà đầu tư khó đoán ngân hàng trung ương Mỹ sẽ phản ứng thế nào nếu lạm phát tiếp tục cao.

Sự thiếu rõ ràng càng gây chú ý khi lợi suất trái phiếu dài hạn của Mỹ ở mức cao, khiến chi phí vay của chính phủ, doanh nghiệp và người dân tăng theo. Bộ Tài chính Mỹ đã tăng quy mô mua lại trái phiếu dài hạn để hỗ trợ thị trường, nhưng tác động chỉ mang tính tạm thời. Diễn biến này cho thấy Fed không chỉ phải cân nhắc giữa lạm phát và tăng trưởng, mà còn phải tính tới những biến động trên thị trường tài chính trong quá trình lựa chọn chính sách.

Mỗi nền kinh tế một lựa chọn

Bài toán đặt ra tại Jackson Hole không chỉ là câu chuyện của nước Mỹ, bởi giá năng lượng tăng và những bất ổn mới đang tác động tới nhiều nền kinh tế cùng lúc. Điểm khác biệt nằm ở chỗ mỗi quốc gia bước vào giai đoạn này với mức lạm phát, tăng trưởng, lãi suất và khả năng chịu tác động từ giá năng lượng không giống nhau, khiến thời kỳ các ngân hàng trung ương cùng tăng hoặc cùng giảm lãi suất ngày càng nhường chỗ cho những lựa chọn riêng.

Châu Âu đặc biệt nhạy cảm với biến động giá năng lượng do phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu, khiến Ngân hàng Trung ương châu Âu phải thận trọng trước nguy cơ giá dầu và khí đốt tiếp tục gây sức ép lên lạm phát. Nhật Bản cũng đối mặt với những tính toán riêng về giá cả và tỷ giá, trong khi Australia đang đứng trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất sau khi số liệu lạm phát mới nhất cao hơn dự báo. Tại châu Á, chính sách tiền tệ cũng đang được cân nhắc lại ở nhiều nền kinh tế trước tác động của giá năng lượng và nhu cầu liên quan đến AI.

Sự phân hóa này khác với những giai đoạn khủng hoảng trước, khi các ngân hàng trung ương lớn thường đi cùng một hướng. Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, lãi suất được đồng loạt hạ mạnh để hỗ trợ kinh tế, còn khi lạm phát tăng vọt sau đại dịch Covid-19, nhiều nước cùng bước vào chu kỳ thắt chặt tiền tệ. Hiện nay, cú sốc vẫn mang tính toàn cầu nhưng mức độ ảnh hưởng ngày càng phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng nền kinh tế.

Bài toán càng phức tạp khi lạm phát chịu tác động từ nhiều phía. Chiến tranh Iran đẩy giá năng lượng lên cao, đầu tư AI làm gia tăng nhu cầu về vốn và hạ tầng, thời tiết cực đoan đe dọa nguồn cung, trong khi nợ công lớn khiến việc duy trì chi phí vay cao trong thời gian dài trở nên khó khăn hơn. Một cú sốc năng lượng có thể dần qua đi, nhưng nhiều cú sốc xuất hiện nối tiếp khiến các ngân hàng trung ương khó xác định đâu là biến động tạm thời và đâu là nguy cơ khiến lạm phát kéo dài.

Các ngân hàng trung ương vì thế phải cân nhắc kỹ thời điểm điều chỉnh chính sách, bởi tăng lãi suất có thể giúp kiềm chế lạm phát nhưng cũng gây sức ép lên tăng trưởng. Việc tiếp tục chờ đợi cũng không dễ dàng khi giá cả có nguy cơ duy trì ở mức cao.

Khó khăn hơn cả là lãi suất có thể hạn chế nhu cầu, nhưng không thể tạo thêm nguồn cung dầu, khơi thông tuyến hàng hải hay giải quyết những gián đoạn do chiến tranh và thời tiết. Trong một thế giới mà các cú sốc ngày càng đến từ bên ngoài nền kinh tế, chính sách tiền tệ cũng khó có thể là câu trả lời cho mọi vấn đề.