Làng Xuân Nộn
Xã hội - Ngày đăng : 09:35, 02/05/2007
(HNMĐT)- Làng Xuân Nộn có tên Nôm là Kẻ Bể, đầu thế kỷ XIX, là một xã thuộc tổng Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, phủ Bắc Hà, trấn Kinh Bắc (năm 1831 đổi thành tỉnh Bắc Ninh).
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Xuân Nộn là một xã độc lập. Trong kháng chiến chống Pháp, làng nhập với các làng : Đường Yên, Lương Quy và Nhạn Tái, thành một xã lớn mang tên Tự Do, thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (năm 1950 là tỉnh Vĩnh Phúc). Tháng 5 - 1961, xã Xuân Nộn cùng các xã khác của huyện Đông Anh được cắt chuyển từ tỉnh Vĩnh Phúc về thành phố Hà Nội. Năm 1965, xã Tự Do đổi tên thành Xuân Nộn. Tháng 10 - 1882, một phần làng Xuân Nộn được cắt về thị trấn Đông Anh mới được thành lập.
Xuân Nộn là một làng cổ, được hình thành từ thuở các Vua Hùng dựng nước. Sự tích các vị thành hoàng cùng các trò diễn ngày hội liên quan đến thần chứng minh điều đó.
Làng Xuân Nộn có ngôi đình được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa năm 1996. Đình thờ 5 vị thần thuộc hai thời kỳ lịch sử khác nhau của đất nước. Lớp thần đầu tiên là Vũ Định và Thiên Lôi gốc ở làng An Dương, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, đạo Thanh Hoa (nay thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa), sinh ra và lớn lên dưới thời Hùng Duệ Vương, có công giúp vua đánh giặc phương Bắc, được ban thực ấp ở huyện Kim Hoa, lấy trang Xuân Nộn làm dinh sở. Gắn với hai vị thần này là ả Lã tiên cung hay ả Lã Tuệ Tịnh phu nhân - vị nữ thần hiện lên báo mộng cho thân phụ và thần mẫu của Vũ Định và Thiên Lôi sẽ sinh được hai người. Việc thờ nữ thần phản ánh tính chất cổ xưa của làng Xuân Nộn và việc đề cao vai trò người phụ nữ của người Việt. Lớp thần thứ hai là hai anh em Trương Hống, Trương Hát, từng theo Triệu Việt Vương đánh giặc vào thế kỷ thứ VI.
Hội làng Xuân Nộn diễn ra từ mồng 10 đến 15 tháng Mười hàng năm, trong đó ngày 11 là chính hội. Hội có lễ rước Vua bà ả Lã từ đền Thiện về đình, bằng kiệu võng điều, do các thanh nữ của làng đảm nhiệm. Độc đáo nhất là trò kéo rắn vào ngày 15, giã hội, diễn lại sự tích thần Vũ Định chỉ huy 34 quân sĩ phá vòng vây địch. Làng chọn 34 trai tráng khỏe mạnh từ các gia đình nề nếp để làm “ông rắn”. Tất cả mặc quần áo thắt lưng vàng, đầu chít khăn đỏ (trước đây đóng khố, cởi trần) kết thành một “ông rắn”, đầu rắn là người đội khăn đỏ kết lại làm “mào”, còn đuôi rắn là người thắt khăn đỏ để dài xuống đất. Trống lệnh nổi lên, ông trùm đám đội khăn đỏ vào đình cầm trống đánh ra hiệu lệnh. “Ông rắn” vào đình dâng lễ thần, kết hợp 3 lần nhảy lên hộ lớn.
Người đầu rắn cầm đao múa bằng những động tác tuồng vừa uyển chuyển, vừa dứt khoát, mạnh mẽ. Màn múa thánh kết thúc, chuyển sang múa kéo rắn : các trai đinh của từng “khúc rắn” nắm lưng nhau theo ông trùm đám chạy luồn qua các cột lớn trong đình, vào hậu cung, rồi lại luồn qua các cột đình, vòng ra đình ba vòng, vào sân đình trình diễn màn múa hoa văn đồng tiền, xong chạy ra đình và biến mất. Suốt quá trình luồn chạy và múa, “ông rắn” không hề bị “đứt khúc” mà luôn “liền khúc, nhịp nhàng, uyển chuyển, trong sự cỗ vũ của dân làng. Trong hội còn có trò đốt cây bông vào tối 11. Cây bông làm bằng các ống nứa, bên trong đựng các câu đối, thơ, các con giống bằng giấy. Khi cây bông được đốt, lửa tạo ra lực đẩy các con giống, câu đối, thơ ra ngoài. Mọi người xô vào cướp để lấy may.
PGS, TS. Bùi Xuân Đính