Làng nghề kể chuyện trên không gian số, văn hóa lan xa
Tiếng búa rèn, đường kim mũi chỉ, nhát đục của người thợ... vốn chỉ vang lên trong không gian làng nghề, nay có thể đến với hàng nghìn người qua màn hình nhỏ. Không gian số đang mở thêm một con đường để những câu chuyện văn hóa được kể lại và tiếp nối.
Từ tiếng búa làng nghề đến những phiên livestream
Một tối thứ năm, tại gia đình Nghệ nhân Hoàng Nam Sơn ở phường Kiến Hưng (Hà Nội), phiên livestream về làng nghề rèn Đa Sỹ thu hút hơn 30.000 lượt xem. Trên màn hình điện thoại, những thanh thép thô qua lửa đỏ, búa rèn và đôi bàn tay người thợ lần lượt tạo nên dao thái hoa quả, dao thái phở, dao chặt và nhiều sản phẩm rèn thủ công khác.
Tuy nhiên, điều níu người xem ở lại không chỉ là sản phẩm. Nghệ nhân Hoàng Nam Sơn kể về nghề rèn, về quá trình gìn giữ nghề truyền thống và những giá trị được hun đúc qua bàn tay, khối óc của người thợ Đa Sỹ. Mỗi sản phẩm vì thế có thêm một “lý lịch” văn hóa, nó được sinh ra ở đâu, bằng kỹ thuật gì và vì sao qua hàng trăm năm vẫn giữ được chỗ đứng trong đời sống.
.jpg)
Đó cũng là nội dung phiên livestream số 17 trong mô hình “Thanh niên chung tay gìn giữ phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống, lan tỏa bản sắc kiến tạo tương lai bền vững" do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam phường Kiến Hưng phối hợp với Đoàn Thanh niên phường tổ chức. Mô hình đã tạo ra sự kết nối trực tiếp giữa nghệ nhân, sản phẩm và người tiêu dùng. Nhiều sản phẩm được khán giả quan tâm, tương tác và đặt mua ngay trên sóng.
Đặc biệt, Đoàn phường thành lập Tổ thanh niên truyền thông số làng nghề Đa Sỹ gồm 22 đoàn viên có kỹ năng quay dựng video, thiết kế hình ảnh và vận hành mạng xã hội. Tính đến ngày 20-8, 17 phiên livestream đã được tổ chức cùng các nghệ nhân. Đoàn phường còn xây dựng chuyên mục “Mỗi tuần một câu chuyện về làng nghề Đa Sỹ”, thực hiện 10 video ngắn, thu hút hơn 185.000 lượt xem cùng hơn 500 lượt chia sẻ, bình luận và tương tác. Cùng với đó là 15 chương trình trải nghiệm rèn thủ công, khoảng 200 người được giới thiệu, thuyết minh về làng nghề, trong đó hơn 65% là đoàn viên, học sinh, sinh viên.
Tại xã Thượng Phúc, câu chuyện lại được kể bằng những tấm vải áo dài và sản phẩm thêu của làng Đông Cứu. Trong một phiên livestream chủ đề “Tinh hoa làng nghề Thượng Phúc – Gìn giữ tinh hoa, lan tỏa giá trị”, sản phẩm được giới thiệu trực tiếp trên nền tảng số, đi cùng câu chuyện về nguồn gốc, chất liệu, mẫu mã và giá trị văn hóa.
Sau khoảng 3 giờ phát sóng, chương trình chốt gần 600 đơn hàng, doanh thu khoảng 400 triệu đồng. Một kết quả đáng chú ý nhưng phía sau những con số ấy còn có một điều quan trọng hơn, đó là người tiêu dùng được nhìn thấy sản phẩm trong một câu chuyện rộng hơn về tinh hoa làng nghề, truyền thống văn hóa.

Phó Chủ tịch UBND xã Thượng Phúc Trần Ngọc Tuân cho rằng, đổi mới phương thức quảng bá, tiêu thụ sản phẩm là hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị làng nghề, mở rộng thị trường và đưa sản phẩm truyền thống đến gần hơn với người tiêu dùng. Việc ứng dụng công nghệ, thương mại điện tử và mạng xã hội vừa hỗ trợ các cơ sở tìm kiếm khách hàng, vừa góp phần quảng bá hình ảnh, văn hóa và con người địa phương.
Từ một sản phẩm làm ra trong làng, livestream giúp sản phẩm vượt qua giới hạn địa lý. Người mua ở nơi khác có thể nhìn thấy chất liệu, màu sắc, mẫu mã, đặt câu hỏi và nghe kể về nghề. Đó là một hình thức “đưa làng nghề đi xa” mà không cần đưa cả làng nghề ra khỏi không gian vốn có.
Ở xã Tam Hưng, cách kể chuyện cũng bắt đầu từ chính nơi sản phẩm được sinh ra. Phiên livestream giới thiệu, quảng bá sản phẩm làng nghề được thực hiện tại Cơ sở sản xuất điêu khắc thủ công mỹ nghệ Nga Khánh, thôn Dư Dụ.
Trong không gian sản xuất, người xem được trực tiếp khám phá các sản phẩm điêu khắc gỗ, tượng gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ và theo dõi những công đoạn từ lựa chọn nguyên liệu, tạo hình, chạm khắc đến hoàn thiện. Qua đó, người thợ không còn là một nhân vật đứng phía sau sản phẩm. Bàn tay, kỹ thuật và sự sáng tạo của họ trở thành một phần của câu chuyện văn hóa được truyền tải tới công chúng.
Đưa “hồn cốt” làng nghề vào đời sống số
Hà Nội hiện có hơn 1.300 làng nghề và làng có nghề, trong đó hơn 300 làng nghề truyền thống được công nhận. Đằng sau những con số ấy là một kho tàng văn hóa sống động, nơi lưu giữ lịch sử, tập quán, kỹ thuật sản xuất, mỹ thuật dân gian và kinh nghiệm của nhiều thế hệ.

Bởi vậy, câu chuyện chuyển đổi số ở làng nghề, xét đến cùng, không chỉ là câu chuyện về bán hàng trực tuyến. Đó còn là câu chuyện làm thế nào để những giá trị được hình thành từ quá khứ tiếp tục có chỗ đứng trong đời sống hiện đại.
Theo ông Trần Nhật Lam, Phó Chánh Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương, chuyển đổi số trong bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề có hai ý nghĩa cốt lõi là bảo tồn và phát huy. Số hóa tư liệu, quy trình sản xuất, câu chuyện nghề, kỹ thuật thủ công... tạo nền tảng lưu giữ những giá trị ấy lâu dài, đồng thời giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về nghề của cha ông để tiếp tục kế thừa và phát triển.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh nhiều nghề truyền thống đang đứng trước bài toán truyền nghề. Một kỹ thuật nếu chỉ tồn tại trong trí nhớ của nghệ nhân sẽ rất dễ mai một khi lớp người nắm giữ nghề ngày càng cao tuổi. Nhưng khi quy trình, câu chuyện và tri thức nghề được ghi lại, số hóa và lan tỏa, ký ức của làng nghề có thêm một “không gian sống” mới.
Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh nguyên tắc khi chuyển đổi số là không làm mất đi “hồn cốt” của sản phẩm làng nghề. Bởi sản phẩm làng nghề không chỉ là sản phẩm vật chất mà còn là sản phẩm văn hóa. Người tiêu dùng không chỉ mua một món đồ, mà nhiều khi mua cả câu chuyện, ký ức và giá trị văn hóa được gửi gắm trong đó.

Từ góc nhìn ấy, một phiên livestream ở Đa Sỹ đáng được nhìn rộng hơn con số 30.000 lượt xem. Điều quan trọng là hàng vạn người đã có cơ hội biết đến một làng nghề rèn có lịch sử hàng trăm năm; nhìn thấy người nghệ nhân thao tác; hiểu vì sao một sản phẩm thủ công có giá trị riêng.
Tương tự, gần 600 đơn hàng ở Thượng Phúc không chỉ phản ánh sức mua. Nó cho thấy sản phẩm truyền thống vẫn có khả năng bước vào thị trường hiện đại nếu biết kể đúng câu chuyện và tiếp cận đúng công chúng. Còn tại Tam Hưng, việc đưa người xem vào tận không gian sản xuất đã biến một sản phẩm vô tri thành câu chuyện về bàn tay, thời gian và sức sáng tạo của người thợ.
Đó cũng là lúc văn hóa không còn bị đặt trong một không gian tách biệt với kinh tế. Bảo tồn và phát triển không phải hai con đường đối lập. Một làng nghề chỉ có thể giữ được sức sống khi người làm nghề có thu nhập, sản phẩm có thị trường và thế hệ trẻ nhìn thấy tương lai của nghề.
Chuyển đổi số, vì thế, có thể trở thành một chiếc cầu nối. Một đầu cầu là nghệ nhân, người thợ, những kỹ thuật đã được trao truyền qua nhiều thế hệ. Đầu kia là người tiêu dùng hôm nay, đặc biệt là lớp trẻ đang sống trong môi trường số.
Khi tiếng búa Đa Sỹ, đường kim Đông Cứu hay tiếng đục Dư Dụ có thể đến với những màn hình ở rất xa làng quê, câu chuyện của làng nghề cũng đang có thêm một đời sống mới: đời sống của văn hóa trong kỷ nguyên số.