Thương mại hóa tài sản trí tuệ: Biến sáng tạo thành động lực tăng trưởng kinh tế
Kinhtedothi - Hà Nội đang đứng trước cơ hội lớn để biến các sáng chế, nhãn hiệu và kết quả nghiên cứu thành nguồn lực kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là nhận định của các chuyên gia, doanh nghiệp và nhà khoa học tại hội thảo “Thương mại hóa tài sản trí tuệ - Thực trạng và giải pháp”, do Sở KH&CN Hà Nội phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) tổ chức, sáng 30/9.
Hà Nội dẫn đầu về sở hữu trí tuệ, nhưng khai thác vẫn là thách thức
Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Giám đốc Sở KH&CN Hà Nội Phan Văn Phúc nhấn mạnh, cùng với cả nước, Hà Nội đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Sở hữu trí tuệ là trụ cột quan trọng để bảo vệ và khai thác giá trị sáng tạo, nhưng việc thương mại hóa tài sản trí tuệ ở Việt Nam vẫn còn hạn chế.
Theo ông Phan Văn Phúc, tỷ lệ thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam chỉ khoảng 0,1%, trong khi trung bình thế giới đạt 5% và các nước phát triển khoảng 10%. “Nhiều tài sản trí tuệ mới dừng lại ở việc xác lập quyền mà chưa phát huy được tiềm năng thành nguồn lực phát triển. Hà Nội dù dẫn đầu cả nước về số lượng đơn và văn bằng bảo hộ, nhưng việc khai thác các đặc sản, thương hiệu địa phương còn khó khăn do nhận thức xã hội hạn chế và tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn phổ biến” - ông Phúc phân tích.
Ở góc độ quản lý nhà nước, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Nguyễn Hoàng Giang chia sẻ, đầu tư cho tài sản vô hình tăng nhanh, chiếm tới 90% giá trị thị trường của các doanh nghiệp lớn trên thế giới. Ông nhấn mạnh, thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ đang chuyển dịch từ bảo hộ sang khai thác, trong đó trí tuệ nhân tạo và các công cụ số giúp đánh giá thị trường, tối ưu hóa lợi nhuận.
Với Việt Nam, năm 2025 nước ta đứng thứ 44/139 quốc gia về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu. Tuy nhiên, vẫn tồn tại ba “điểm nghẽn”: khó khăn trong định giá tài sản trí tuệ do thiếu chuẩn mực pháp lý; thiếu nhân lực và dữ liệu minh bạch; và tình trạng vi phạm quyền ngày càng phức tạp trên môi trường số. Theo ông Giang, Hà Nội cần tiên phong thử nghiệm cơ chế đặc thù, xây dựng hệ sinh thái định giá và áp dụng mô hình tài chính hóa tài sản trí tuệ với sự bảo lãnh của các tổ chức quốc tế để tạo đột phá.
Hội thảo cũng ghi nhận kinh nghiệm thực tiễn từ phía doanh nghiệp. Ông Lưu Hải Minh - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Công nghệ Mới Nhật Hải (OIC New), chia sẻ hành trình thương mại hóa sáng chế: từ hệ sinh thái sản phẩm nano như Nano Curcumin, Nano Silymarin, Nano Rutin, Nano Ginkgo Biloba… được cấp bằng sáng chế tại Việt Nam và Mỹ, nhiều sản phẩm đã có mặt trên sàn thương mại quốc tế như Amazon.
Ông Minh cho biết, quá trình này không hề dễ dàng do thiếu hành lang pháp lý rõ ràng về định giá tài sản trí tuệ, chính sách thuế còn bất cập. Doanh nghiệp phải tự xoay xở để tiếp cận vốn, trong khi tài sản trí tuệ chưa được công nhận rộng rãi như tài sản đảm bảo. Ông đề xuất Hà Nội thí điểm định giá sáng chế của 25 doanh nghiệp khoa học công nghệ bằng ngân sách thành phố, coi đó là cơ sở cho tín dụng và đầu tư R&D, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tiếp tục đầu tư nghiên cứu, biến kết quả khoa học thành sản phẩm có giá trị.
Từ góc nhìn học thuật, TS. Nguyễn Hữu Cẩn - Quyền Viện trưởng Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ Quốc gia - bổ sung bức tranh toàn cảnh: Việt Nam hiện đứng thứ 37 toàn cầu về chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo, nhưng chỉ xếp hạng 112 về thu nhập từ sở hữu trí tuệ. “Nghịch lý này phản ánh hiệu quả tạo ra kết quả nghiên cứu, sáng chế tương đối tốt, song lại kém hiệu quả trong chuyển hóa thành doanh thu. Doanh nghiệp trong nước đang khai thác tài sản trí tuệ mất cân bằng, chủ yếu dựa vào nhãn hiệu và bí mật kinh doanh, bỏ qua tiềm năng cấp phép sáng chế” - ông Cẩn phân tích. TS. Nguyễn Hữu Cẩn đề xuất, cần có cơ chế tài chính hóa tài sản trí tuệ, đầu tư đào tạo chuyên gia định giá và khuyến khích các trường đại học phát triển mô hình spin-off để đưa công nghệ ra thị trường.
3 giải pháp then chốt để tài sản trí tuệ thành động lực tăng trưởng
Các ý kiến tại hội thảo nhất trí rằng thương mại hóa tài sản trí tuệ là chìa khóa để Việt Nam bứt phá, đặc biệt khi Hà Nội đã hai năm liên tiếp dẫn đầu chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương.
Để biến tiềm năng này thành hiện thực, các chuyên gia chỉ ra ba giải pháp then chốt. Thứ nhất, định giá và tài chính hóa tài sản trí tuệ. Việc xây dựng cơ chế đánh giá chính xác, công nhận giá trị của sáng chế, nhãn hiệu và bí mật kinh doanh sẽ tạo nền tảng để triển khai các mô hình tín dụng và quỹ đầu tư mạo hiểm, giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ dễ dàng tiếp cận vốn.
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đào tạo chuyên gia định giá, tư vấn chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp và viện nghiên cứu là yếu tố quyết định để khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ.
Thứ ba, thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách mạnh mẽ. Tăng cường thanh tra, kiểm soát vi phạm trên môi trường số, đồng thời nâng cao nhận thức xã hội về giá trị sáng tạo sẽ bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp và đảm bảo môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng.
Phó Giám đốc Sở KH&CN Hà Nội Phan Văn Phúc nhấn mạnh, chỉ khi tài sản trí tuệ được nhìn nhận và khai thác đúng tầm giá trị, chúng mới thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế tri thức và hội nhập bền vững. Nhà nước, doanh nghiệp và giới khoa học cần đồng hành để biến sáng tạo thành giá trị kinh tế thực sự.
Hội thảo đã mở ra không gian thảo luận, trao đổi kinh nghiệm và kết nối mạng lưới các nhà quản lý, doanh nghiệp và chuyên gia, tạo nền tảng để Hà Nội đi đầu trong việc thương mại hóa tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy kinh tế tri thức, tăng trưởng bền vững và năng lực cạnh tranh quốc gia.