Văn nghệ

Nơi cội nguồn bình yên

Nguyên Văn 22/08/2026 18:48

Mưa dầm dề từ nửa đêm tới sáng. Con kênh trước nhà cuộn nước đỏ quạch, lục bình trôi thành từng vạt tím ngắt gạt qua đôi bờ. Hôm nay giữa cơn gió heo may lùa qua mái lá kêu xè xè, tự nhiên tôi nhớ tới ba, nhớ cái bếp củi ngút ngàn khói ngày cũ quá đỗi.

Ba mẹ tôi là những người nông dân thật thà, chẳng quen nói lời hoa mỹ. Mơ ước của ba mẹ cả đời được tóm gọn trong mấy chữ “cho con bằng bạn bằng bè”. Ba tôi cả đời làm nông, thi thoảng đi mấy chuyến ghe cùng chú bác ngoài quê, lưng còng gập như hình dấu hỏi, da đen quánh màu bùn bãi bồi. Còn mẹ thì thường quảy gánh rau muống ra chợ từ lúc sương chưa tan trên lá dừa.

tap-van.jpg
Minh họa Nguyên Sa

Tôi nhớ hoài mùa Vu lan năm tôi mười lăm tuổi. Chiều đó trời đổ mưa giông, tôi ngó mâm cơm cúng rằm chỉ có đĩa khoai lang luộc cùng ít cháo trắng giản đơn. Ba tôi thở dài bằng cả tấn nặng lòng gộp lại, lặng lẽ bỏ ra sau hè rít hơi thuốc lá tự quấn. Còn mẹ thì xoa đầu tôi, bàn tay nhăn nhúm, chai sạn quẹt ngang má tôi nhè nhẹ. Mẹ thủ thỉ bằng cái giọng êm ru, rằng mai mốt có cúng kính gì cho cha mẹ thì cứ liệu cơm gắp mắm, cái quý nhất là tấm lòng. Ráng học rồi làm người tử tế, vậy là báo hiếu lớn nhất cho cha mẹ rồi. Mẹ nói vậy thôi, nhưng tôi biết trong thẳm sâu lòng mẹ, vẫn day dứt vì chưa thể lo chu toàn cho ông bà tổ tiên. Cái nghèo đôi khi cũng nghiệt ngã quá đỗi.

Có lần, ba dắt tôi qua chùa làng. Giữa chánh điện nghi ngút khói trầm, một cô chú Phật tử bước lại cài lên ngực áo tôi một đóa hoa hồng đỏ thắm. Tôi quay sang, thấy cô chú cài cho ba đóa hoa màu trắng. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy ba khóc. Giọt nước mắt trong vắt lăn qua những vệt chân chim chằng chịt trên mặt ba, rơi xuống vạt áo đã sờn vai. Thì ra sau cái lưng còng nhẫn nại nuôi chị em tôi khôn lớn, ba cũng là một đứa con mồ côi cha mẹ, cũng có một khoảng trống thênh thang thương nhớ ông bà nội ở cõi vô cùng.

Thời gian trôi, tôi lớn dần, lao vô cuộc sống chốn phố thị, theo đuổi những chân trời xa ngái. Rồi một chiều thu tháng tám, tôi nhận cuộc gọi từ quê báo tin ba mệt nặng. Chuyến xe đò chạy xé đêm chở tôi về, nhưng tôi đã không kịp nói với ba vài câu sau cuối. Ba đi nhẹ nhàng như chiếc lá bàng rơi xuống dòng kênh, bỏ lại chiếc bếp củi lạnh tanh và cặp đòn gánh gác bên hông nhà.

Cầm chiếc kim khâu vá lại nếp áo sơ mi cũ của ba để lại, ngón tay tôi run run. Đau xót chứ. Nghẹn ngào chứ. Nhưng giữa cái tĩnh mịch của căn nhà đầy ắp kỷ niệm, tôi nhẹ lòng vì những tháng ngày ba còn sống tôi đã sống trọn đạo làm con, chưa từng làm ba phải muộn sầu.

Người ta hay bảo Vu lan là lễ của Phật giáo, nhưng với người quê tôi, đó là dịp để dừng lại, để bớt bận rộn, để giật mình nhớ ra mình từ đâu sinh ra, cội nguồn mình nằm ở đâu. Tri ân cha mẹ không phải đợi tới khi người khuất núi mới làm mâm cao cỗ đầy. Nó nằm ở chén nước trà ấm rót dâng cha mỗi sáng, ở cái ôm thật chặt xua đi cái lạnh nơi lưng mẹ, ở sự tử tế trong cách mình đối xử ở đời.

Bên ngoài, mưa đã tạnh. Ánh trăng rằm tháng Bảy nhô lên cao, vạch một dải bạc lấp lánh trên mặt kênh. Tôi thắp nén hương dâng lên bàn thờ, khói thơm quyện vô nụ cười hiền khô của ba trong tấm ảnh cũ. Gió thu vẫn thổi xào xạc như thể nhắc tôi rằng dẫu gánh đời có nặng tới đâu, chỉ cần trong tim còn vẹn nguyên đạo hiếu, thì cội nguồn vẫn luôn là điểm tựa bình yên nhất cho tôi tựa vô suốt một đời.