Giáo dục

Chuẩn hóa hệ sinh thái hướng nghiệpBài 2: Những “lỗ hổng” cần được lấp đầy

Trí Nhân 21/08/2026 - 06:25

Dù đã được xác định là nội dung bắt buộc trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, công tác hướng nghiệp ở không ít trường trung học cơ sở và trung học phổ thông vẫn nặng tính hình thức, thiếu trải nghiệm thực tế và tư vấn cá nhân hóa, nhiều giáo viên cũng chưa được đào tạo bài bản về công tác hướng nghiệp.

Khi học sinh chọn ngành, chọn trường theo trào lưu hoặc kỳ vọng của gia đình, cái giá phải trả không chỉ dừng lại ở một quyết định sai. Khi các em không dám bày tỏ thật mong muốn của bản thân, cái giá của sự im lặng ấy là vài năm tuổi trẻ cùng nhiều tiếc nuối...

7-huong-nghiep.jpg
Tư vấn cho học sinh các ngành của Trường Đại học Thành Đô. Ảnh: Phương Hạnh

Môn học hướng nghiệp chưa thực sự vào guồng

Theo Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông được xác định là nhiệm vụ quan trọng, được đưa vào chủ trương, kế hoạch chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã đưa hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp thành nội dung giáo dục bắt buộc từ lớp 6 đến lớp 12 với thời lượng ở cấp trung học phổ thông lên tới 3 tiết/tuần (tương đương thời lượng môn toán).

Đánh giá về thực tế triển khai môn học này, chị Hồng Nhung, phụ huynh có con đang học lớp 9 tại một trường trung học cơ sở thuộc phường Giảng Võ (Hà Nội) cho biết, tuy trong chương trình học có môn hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp nhưng gần như các con không học mà thay vào đó, giáo viên sẽ mượn thời lượng môn học này để dạy các môn học chính như văn, toán.

Đồng quan điểm, chị Vân Anh, có con đang học lớp 11 tại phường Lĩnh Nam (Hà Nội) đánh giá: “Hiện gia đình tôi chủ yếu tìm hiểu thông tin về các ngành nghề trên các trang báo uy tín và một phần trên trang thông tin điện tử của nhà trường. Tôi đánh giá trường con chưa đẩy mạnh hoạt động hướng nghiệp. Nếu có định hướng nghề nghiệp rõ nét thì việc chọn trường, chọn ngành của học sinh và phụ huynh sẽ dễ dàng hơn”, chị Vân Anh chia sẻ.

Khảo sát thực tế việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho thấy, nhiều trường đã nghiêm túc đưa môn học “Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp” vào giảng dạy nhưng còn nhiều vướng mắc. “Điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay nằm ở năng lực của đội ngũ giáo viên, trong đó bất cập rõ nhất là nhiều giáo viên chưa được đào tạo bài bản về công tác hướng nghiệp. Các trường đại học, cao đẳng sư phạm chưa có chương trình đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ tư vấn hướng nghiệp. Trách nhiệm dạy môn học này đang dồn lên vai lực lượng giáo viên chủ nhiệm hoặc cán bộ Đoàn, Đội kiêm nhiệm. Với khối lượng giờ dạy các môn chuyên môn vốn đã quá tải, lại không có kỹ năng sâu về đánh giá năng lực hay cập nhật biến động thị trường lao động, các thầy cô giáo rất khó để giảng dạy hiệu quả môn học này.

Cô giáo Nguyễn Thị Xiêm, giáo viên chủ nhiệm lớp 12A1, Trường Trung học phổ thông IVS (Hà Nội) cho biết: “Môn hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp nhằm giải quyết 3 bài toán lớn là giúp học sinh hiểu bản thân; hiểu nhu cầu xã hội, ngành nghề; từ đó đưa ra quyết định chọn trường, chọn ngành.

Tuy nhiên, giáo trình môn học này hiện nay chủ yếu ở dạng khung định hướng, gạch đầu dòng. Giáo viên bộ môn kiêm nhiệm phải tự mày mò, tìm hiểu kiến thức thực tế để truyền tải. Với khối lượng giờ dạy môn chuyên môn đã lớn, chúng tôi rất khó có đủ thời gian, kỹ năng chuyên sâu và dữ liệu thị trường để tư vấn cá nhân hóa cho từng học sinh”.

Đồng quan điểm, cô giáo Trần Thị Diệp Anh, giáo viên chủ nhiệm lớp 11A12, Trường Trung học phổ thông Cao Bá Quát (Hà Nội) đánh giá, sau gần 10 năm triển khai môn hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, công tác hướng nghiệp vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn. Khi triển khai môn học này, ngành Giáo dục mới chỉ tập huấn cho một số cán bộ của trường, sau đó thầy cô về tập huấn lại cho giáo viên chủ nhiệm. Quá trình thông tin này có thể “tam sao, thất bản” khiến giáo viên chưa hiểu rõ và khó có thể giảng dạy chuyên sâu cho học sinh. Vì vậy, cô giáo Trần Thị Diệp Anh đề xuất, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên “đặt hàng” các trường đại học lồng ghép thêm các chương trình đào tạo chuyên sâu về hướng nghiệp cho sinh viên sư phạm, qua đó tạo nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác này.

Bên cạnh đó, công tác hướng nghiệp hiện nay chưa sát với nhu cầu thực tế. Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Bất Bạt (Hà Nội) Nguyễn Thành Long cho rằng, công tác phân luồng, hướng nghiệp hiện nay vẫn còn chưa sát nhu cầu thực tế của thị trường lao động. “Nút thắt” lớn nhất nằm ở nhận thức và thông tin. Nhiều học sinh chưa thực sự hiểu rõ năng lực, sở trường của bản thân, trong khi đó phụ huynh lại có tâm lý định hướng cho con theo những ngành nghề mang tính ổn định, hoặc theo xu hướng xã hội mà chưa căn cứ vào nhu cầu nhân lực thực tế.

Cùng với đó, việc kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp, cơ sở đào tạo nghề dù đã được quan tâm, nhưng chưa thực sự sâu rộng, dẫn đến thông tin về thị trường lao động đến với học sinh còn hạn chế, thiếu cập nhật. Ngoài ra, theo thầy giáo Nguyễn Thành Long, tâm lý coi trọng bằng cấp, đặc biệt là con đường học đại học, vẫn còn khá phổ biến, khiến cho công tác phân luồng sau bậc trung học phổ thông, hoặc sớm hơn, gặp không ít khó khăn.

Ngành “hot” và áp lực từ kỳ vọng của gia đình

Sự thiếu hụt kênh tư vấn chính thống tại các nhà trường đã tạo ra khoảng trống cho các nguồn thông tin thiếu kiểm chứng bùng nổ, đặc biệt là trên các nền tảng mạng xã hội. Theo cô giáo Nguyễn Thị Xiêm, trên mạng xã hội có quá nhiều thông tin về các ngành nghề, khiến học sinh bị rối, nhiễu. Các em thường bị thu hút bởi “cái bẫy” ngành “hot”, lương cao, làm giàu nhanh, trong khi bản thân chưa đủ kinh nghiệm sống để chắt lọc thông tin tích cực.

Còn theo cô giáo Vũ Vân Trang, cán bộ tư vấn hướng nghiệp tại Trường Trung học phổ thông Hoàng Long (Hà Nội), một trong những sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi lựa chọn ngành nghề là chạy theo xu hướng ngành “hot” mà không tìm hiểu kỹ về lĩnh vực, kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng liên quan của ngành nghề đó. Tiếp đến, nhiều học sinh lựa chọn theo mong muốn của bố mẹ hoặc chọn theo bạn bè nhưng chưa tìm hiểu đầy đủ về năng lực, sở thích và giá trị cá nhân. Học sinh đôi khi “gán nhãn” một ngành học với một nghề nghiệp duy nhất, trong khi thị trường lao động hiện nay thay đổi rất nhanh và một ngành có thể mở ra nhiều hướng phát triển khác nhau.

Bên cạnh đó, việc kỳ vọng quá sức từ phía gia đình vẫn là một “tảng đá” đè nặng lên vai các em. Ở Việt Nam, định kiến “đại học là con đường duy nhất để lập thân” vẫn còn ăn sâu trong nhận thức của không ít gia đình và học sinh. Nhiều phụ huynh sẵn sàng áp đặt ước mơ dở dang của mình lên con trẻ, bất chấp năng lực và nguyện vọng của các con. Sự ép buộc mang tính chủ quan đó khiến không ít học sinh bước vào đại học trong sự gượng ép và mất phương hướng. Để rồi khi không thể chịu nổi áp lực, các em chọn cách bỏ dở giữa chừng hoặc cố học cho xong chương trình để có tấm bằng rồi... cất vào tủ.

Ở chiều ngược lại, cũng đã xuất hiện những chuyển biến trong nhận thức của một bộ phận phụ huynh. Chị Nguyễn Thị Thanh, chủ một chuỗi spa tại Hà Nội, vừa có con gái trúng tuyển Học viện Ngoại giao chia sẻ, ngay từ khi cháu học lớp 10, vợ chồng chị đã định hướng cho con về nghề nghiệp tương lai.

“Chúng tôi muốn con có công việc tốt, thu nhập ổn định. Nhưng chọn ngành nghề không nên chỉ dựa vào kinh nghiệm của thế hệ mình hay ngành đang “hot” mà cần hiểu năng lực, sở thích của con, từ đó đưa ra định hướng cho con và để con tự quyết định”, chị Nguyễn Thị Thanh chia sẻ. Theo chị, hiện nay có nhiều nguồn thông tin hướng nghiệp chính thống mà cha mẹ có thể tìm hiểu. Ví dụ như các buổi hội thảo hướng nghiệp tại trường phổ thông, hay các chương trình trải nghiệm thực tế nghề nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng… Tuy nhiên, chị cũng nhận định chỉ có khoảng 5-10% số phụ huynh tham gia cùng con trong các hoạt động hướng nghiệp tổ chức tại trường học.

“Đây là điều đáng tiếc cho các bậc phụ huynh. Có lẽ vì các bậc cha mẹ nghĩ rằng việc đỗ đại học không khó khăn như kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 vì có nhiều trường để lựa chọn. Nhưng, theo tôi, đây là những cơ hội rất thiết thực để cha mẹ có định hướng rõ ràng hơn về nghề nghiệp tương lai cho con mình”, chị Nguyễn Thị Thanh chia sẻ.

Cha mẹ yêu con, nhưng nếu tình yêu đi cùng với việc áp đặt nghề nghiệp tương lai có thể trở thành áp lực cho con. Không ít phụ huynh vẫn nhìn nghề nghiệp bằng hệ quy chiếu cũ: Đại học công lập tốt hơn tư thục; cử nhân “sang” hơn học nghề; ngành y, luật, kinh tế, sư phạm là an toàn; nghệ thuật, dịch vụ, kỹ thuật thực hành là bấp bênh. Chính những khuôn mẫu ấy khiến nhiều học sinh không dám bày tỏ thật mong muốn của bản thân. Sự im lặng ấy đáng lo hơn một cuộc tranh luận, bởi người lớn sẽ tưởng rằng con đã đồng ý. Đến khi sự không phù hợp bộc lộ ra, cái giá đã là vài năm tuổi trẻ.

Đã đến lúc hướng nghiệp phải trở thành một cấu phần nghiêm túc trong quản trị giáo dục, có người làm chuyên nghiệp, có công cụ chuẩn hóa, có dữ liệu thị trường, có doanh nghiệp tham gia và có phụ huynh đồng hành. Nếu không, những “lời giải sai” cho bài toán nghề nghiệp sẽ còn tiếp diễn.

(Còn nữa)