Kinh tế

Xuất khẩu gạo: Chuyển lợi thế từ giá cả sang chất lượng và thương hiệu

Ánh Ngọc 20/08/2026 - 14:55

Trong bối cảnh thị trường gạo thế giới tiếp tục biến động, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần theo dõi sát chính sách thương mại và nhu cầu từ các thị trường trọng điểm để chủ động kế hoạch thu mua, chế biến và xuất khẩu, đồng thời nâng cao chất lượng, đa dạng hóa thị trường.

Tăng lượng, giảm giá trị

Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 7 tháng năm 2026, lượng gạo xuất khẩu đạt khoảng 5,5 triệu tấn, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, kim ngạch chỉ đạt 2,64 tỷ USD, giảm 6,7%. Giá xuất khẩu bình quân khoảng 476,6 USD/tấn, giảm 7,1%.

gao13.jpg
Giá gạo xuất khẩu bình quân trong 7 tháng năm 2026 khoảng 476,6 USD/tấn. Ảnh: aan.vn

Trong khi đó, dư địa tăng lượng xuất khẩu những tháng cuối năm không còn nhiều. Đáng lưu ý, sản lượng lúa năm 2026 dự kiến đạt khoảng 43-44 triệu tấn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, dự trữ và xuất khẩu khoảng 7-7,5 triệu tấn gạo. Sau khi đã xuất khẩu khoảng 5,5 triệu tấn trong 7 tháng, lượng hàng dành cho những tháng cuối năm chỉ còn khoảng 1,5-2 triệu tấn.

Điều đó cho thấy, trong những tháng còn lại của năm, dư địa để tăng xuất khẩu bằng cách tăng mạnh lượng hàng là không lớn. Muốn cải thiện kim ngạch, hướng đi phù hợp hơn là nâng giá trị của sản phẩm xuất khẩu.

Diễn biến trên thị trường thế giới cũng cho thấy bài toán xuất khẩu không đơn giản. Giá gạo của Ấn Độ - quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới đã tăng lên mức cao nhất trong gần 10 tháng do nguồn cung thu hẹp và nhu cầu nhập khẩu dần phục hồi. Đây là tín hiệu tích cực, có thể tạo thêm dư địa cho giá gạo trong thời gian tới.

Tuy nhiên, nguồn cung toàn cầu vẫn khá lớn. Theo dự báo của Hội đồng Ngũ cốc Quốc tế, niên vụ 2026-2027, sản lượng gạo thế giới có thể đạt khoảng 545 triệu tấn, cao hơn nhu cầu tiêu thụ khoảng 2 triệu tấn. Thương mại gạo toàn cầu dự kiến đạt 62 triệu tấn, trong khi tồn kho có thể lên khoảng 199 triệu tấn, chủ yếu nhờ nguồn cung lớn từ Ấn Độ.

Nguồn cung dồi dào khiến cạnh tranh tiếp tục gay gắt. Gạo Việt Nam có lợi thế ở nhóm sản phẩm chất lượng cao, nhưng ở phân khúc gạo trắng phổ thông, doanh nghiệp vẫn phải cạnh tranh với Ấn Độ và Pakistan, những nước có lợi thế về giá.

Sức ép không chỉ đến từ bên ngoài. Trong nước, giá nguyên liệu phục vụ xuất khẩu cũng đang ở mức tương đối cao. Dữ liệu của Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương) cho thấy, tại Đồng bằng sông Cửu Long, nông dân có xu hướng giữ giá, trong khi thương lái chủ yếu mua theo nhu cầu thực tế, khiến thanh khoản thị trường chưa cải thiện rõ rệt.

Khoảng cách giữa giá nguyên liệu và giá bán xuất khẩu vì thế trở thành sức ép trực tiếp lên doanh nghiệp. Khi chi phí đầu vào tăng nhưng giá xuất khẩu chưa phục hồi tương ứng, doanh nghiệp buộc phải thận trọng hơn trong thu mua và ký hợp đồng mới.

Nâng chất lượng, đa dạng hoá thị trường

Không chỉ cạnh tranh về giá, doanh nghiệp xuất khẩu còn phải đối mặt với xu hướng gia tăng các biện pháp quản lý và phòng vệ thương mại tại các thị trường nhập khẩu.

gao-11.png
Thu hoạch lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Thanh Sơn

Philippines hiện vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất của gạo Việt Nam, chiếm gần 45% kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, nước này đang đẩy mạnh các biện pháp bình ổn giá trong nước, tăng thu mua lúa nội địa và xem xét áp dụng các biện pháp tự vệ đối với gạo nhập khẩu. Việc siết chặt quản lý nhập khẩu có thể ảnh hưởng đến dư địa tăng trưởng của gạo Việt Nam tại thị trường này.

Trong khi đó, Trung Quốc đang cho thấy tín hiệu tích cực khi kim ngạch nhập khẩu gạo Việt Nam tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước. Đây là cơ sở để doanh nghiệp mở rộng thêm thị trường, từng bước giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, trong bối cảnh nhu cầu tại một số thị trường phục hồi chậm, trong khi cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, ngành gạo cần đồng thời mở rộng thị trường và nâng giá trị thương hiệu.

Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) Đỗ Hà Nam cho rằng, để thúc đẩy xuất khẩu, cần chủ động tháo gỡ các rào cản tại những thị trường trọng điểm, nhất là Philippines; đồng thời mở rộng sang các thị trường tiềm năng như châu Phi, qua đó phân tán rủi ro và giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.

Tuy nhiên, mở rộng thị trường sẽ khó tạo chuyển biến về giá trị nếu sản phẩm vẫn chủ yếu cạnh tranh bằng giá. Vì vậy, phát triển thương hiệu gạo quốc gia trên nền tảng các giống chất lượng cao như ST25, Jasmine và các dòng gạo thơm cần được xem là hướng đi quan trọng để nâng giá trị xuất khẩu, từng bước chuyển lợi thế của gạo Việt từ giá cả sang chất lượng và thương hiệu.

Cùng với phát triển thương hiệu, VFA kiến nghị tiếp tục hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân nhằm bảo đảm nguồn cung ổn định. Việc nâng khả năng truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu cũng là điều kiện để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.

Ở phía doanh nghiệp, các vướng mắc về tín dụng, hoàn thuế giá trị gia tăng và cơ chế thanh toán khi thu mua lúa trực tiếp từ nông dân cần tiếp tục được tháo gỡ. Đây là những yếu tố có tác động trực tiếp đến dòng tiền, năng lực thu mua và khả năng chủ động nguồn hàng của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường biến động.

Năm 2024, xuất khẩu gạo kỷ lục gần 9,2 triệu tấn, kim ngạch đạt 5,7 tỷ USD. Năm 2025, xuất khẩu gạo đạt 7,85 triệu tấn, trị giá 4 tỷ USD. Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu gạo ổn định ở mức 7 -7,5 triệu tấn, kim ngạch kỳ vọng đạt 4,5 - 5 tỷ USD, tập trung nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng.