Giáo dục

Thi vào lớp 10: Giảm áp lực không chỉ là giảm môn thi

Điệp Quyên 17/08/2026 - 17:22

Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến về phương án thi lớp 10 công lập chỉ còn toán và ngữ văn tiếp tục tạo nhiều tranh luận. Đằng sau câu chuyện chọn 2 hay 3 môn là bài toán lớn hơn: Làm thế nào để giảm áp lực thi cử, bảo đảm chất lượng giáo dục và quan trọng hơn là tạo sự ổn định để học sinh chủ động chuẩn bị cho kỳ thi?

Hai phương án, nhiều góc nhìn

Theo Thông tư 30/2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo áp dụng từ năm học 2025-2026, kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập gồm toán, ngữ văn và một môn thi hoặc bài thi thứ ba do Sở Giáo dục và Đào tạo lựa chọn. Môn thi thứ ba được công bố sau khi kết thúc học kỳ I, nhưng không muộn hơn ngày 31-3 hằng năm; đồng thời, môn thi thứ ba không được lựa chọn quá 3 năm liên tiếp.

vd.jpg
Học sinh thi lớp 10 năm học 2026-2027 tại điểm thi Trường THPT Việt Đức. Ảnh: VĐ

Ngay từ khi quy định này được ban hành, việc lựa chọn môn thi thứ ba đã nhận được nhiều ý kiến khác nhau. Một số ý kiến đề nghị cố định môn thứ ba là tiếng Anh để học sinh có định hướng chuẩn bị ổn định trong suốt cấp THCS. Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng việc thay đổi môn thi sẽ góp phần hạn chế tình trạng học lệch.

Thực tế những năm qua cho thấy, mỗi khi gần đến thời điểm công bố môn thi thứ ba, phụ huynh và học sinh lại thấp thỏm chờ đợi. Tâm lý “không biết thi môn gì” khiến nhiều học sinh phải duy trì việc học và ôn tập nhiều môn trong thời gian dài.

Trong bối cảnh đó, đề xuất của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phương án thi lớp 10 công lập chỉ gồm hai môn toán và ngữ văn tạo ra một cuộc tranh luận mới. Nhiều phụ huynh đồng tình bởi giảm một môn thi có thể đồng nghĩa với giảm thời gian ôn luyện, chi phí học thêm và áp lực thi cử.

Một số ý kiến cho rằng, không đưa tiếng Anh vào kỳ thi sẽ phần nào giảm sự chênh lệch giữa học sinh các vùng miền, nhất là ở những nơi điều kiện dạy và học ngoại ngữ còn hạn chế. Mặt khác, việc học tiếng Anh cần được nhìn nhận theo hướng thực chất hơn, thay vì quá phụ thuộc vào một kỳ thi nặng về ngữ pháp.

Tuy nhiên, phương án thi hai môn cũng nhanh chóng nhận được những ý kiến trái chiều. Trên các diễn đàn, nhiều cuộc thăm dò trực tuyến cho thấy tỷ lệ ủng hộ phương án thi ba môn toán, ngữ văn và tiếng Anh vẫn ở mức cao.

Theo cô Nguyễn Quỳnh Anh, giáo viên tại Hà Nội, nếu chỉ thi toán và ngữ văn thì áp lực chưa chắc đã giảm, bởi kết quả tuyển sinh sẽ dồn gần như toàn bộ vào hai bài thi. Trong khi đó, nếu tiếng Anh không còn là môn thi, rất khó tránh việc một bộ phận học sinh xem nhẹ môn học này trong những năm THCS.

“Không phải cứ giảm số môn thi là áp lực sẽ giảm tương ứng. Điều học sinh, gia đình cần là biết rõ mình phải chuẩn bị gì và có đủ thời gian để chuẩn bị một cách cẩn thận”, cô Nguyễn Quỳnh Anh chia sẻ.

Cô Quỳnh Anh chọn phương án cố định toán, ngữ văn và tiếng Anh, bởi sẽ tạo ra định hướng ổn định cho học sinh trong suốt cấp THCS. Đây cũng là 3 môn có vai trò nền tảng, giúp phạm vi đánh giá năng lực học sinh rộng hơn.

Giảm môn thi chưa giải quyết căn cơ áp lực vào lớp 10

Thầy Trần Mạnh Tùng, giáo viên dạy toán tại Hà Nội ủng hộ phương án thi 2 môn mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra, song cho rằng đây mới chỉ là giải pháp trước mắt.

thay-tung.jpg
Thầy Trần Mạnh Tùng, giáo viên dạy toán tại Hà Nội. Ảnh: NVCC

Theo thầy Tùng, kỳ thi lớp 10 là kỳ thi có tính cạnh tranh cao, gây áp lực và tốn kém đối với học sinh, phụ huynh, giáo viên cũng như toàn xã hội. Vì vậy, cải tiến kỳ thi để giảm áp lực nhưng vẫn bảo đảm chất lượng là một bài toán lớn, không thể giải quyết chỉ bằng việc tăng hoặc giảm một môn thi.

Với phương án thi 2 môn, áp lực có thể được giảm ở mức độ nhất định. Toán và ngữ văn là hai môn chủ đạo, đồng thời là môn bắt buộc trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, nhưng hệ quả khác có thể xuất hiện là mức độ cạnh tranh sẽ dồn nhiều hơn vào 2 đầu điểm này.

Đáng chú ý, việc bỏ môn thi thứ ba, trong đó có khả năng không còn thi tiếng Anh, cũng đặt ra câu hỏi về động lực học tập của học sinh.

“Lo ngại không thi thì học sinh không học là có cơ sở. Nhưng nếu học chỉ để phục vụ thi cũng vẫn là học lệch. Học sinh chỉ học những gì đi thi thì cũng không đáp ứng mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực toàn diện”, thầy Tùng phân tích.

Theo ông, việc bỏ môn thi thứ ba có thể trở thành cơ hội để các nhà trường thay đổi cách dạy, học sinh thay đổi cách học. Khi một môn học không còn chịu áp lực của kỳ thi tuyển sinh, việc dạy và học có điều kiện chuyển từ “học để thi” sang chú trọng năng lực sử dụng kiến thức trong thực tế.

Vì thế, giảm môn thi chỉ là một trong nhiều giải pháp. Về lâu dài, cần xây dựng hệ thống đánh giá quá trình học tập của học sinh đủ tin cậy. Khi kết quả học tập trong cả quá trình được đánh giá công bằng, chính xác, học sinh sẽ không phải phụ thuộc quá nhiều vào một kỳ thi duy nhất để quyết định cơ hội học tập.

“Mong muốn lâu dài và bền vững là xây dựng được thước đo đánh giá quá trình học tập của học sinh một cách đáng tin cậy. Khi đó, học sinh sẽ tự giác học để phát triển, thay vì học để đối phó với các kỳ thi”, thầy Tùng nêu quan điểm.

Bên cạnh đổi mới đánh giá, theo thầy Tùng, cần tăng cường phân luồng, hướng nghiệp và tạo thêm cơ hội học nghề sau THCS; truyền thông, cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch để phụ huynh và xã hội thay đổi nhận thức về con đường học tập sau THCS. Khi có nhiều lựa chọn phù hợp với năng lực và định hướng của học sinh, áp lực phải giành một suất vào trường THPT công lập cũng sẽ từng bước được giảm bớt.

Từ những tranh luận trên có thể thấy, lựa chọn 2 hay 3 môn đều có những ưu điểm và những vấn đề cần tính đến. Với nhiều phụ huynh và thí sinh, số lượng môn thi chưa hẳn là vấn đề cốt lõi. Điều họ cần hơn là một phương án thi rõ ràng, được công bố sớm và duy trì đủ ổn định để học sinh có thể chủ động chuẩn bị.

Bởi nếu môn thi thay đổi hoặc được công bố quá muộn, học sinh sẽ phải duy trì tâm thế “môn nào cũng có thể thi”, dẫn đến học dàn trải và khó tránh khỏi áp lực. Ngược lại, nếu phương án được xác định sớm, học sinh có thể xây dựng kế hoạch học tập phù hợp ngay từ đầu cấp THCS, thay vì tập trung ôn luyện trong thời gian ngắn trước kỳ thi.