Công nghiệp văn hóa

Xây dựng hệ sinh thái nhân lực cho ngành công nghiệp sáng tạo

Thủy Nguyên 14/08/2026 - 22:37

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa để tiếp tục hoàn thiện, trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp tháng 10-2026. Một trong những nội dung đáng chú ý của Dự thảo là cách tiếp cận mới về phát triển nguồn nhân lực, theo hướng không chỉ đào tạo người làm văn hóa, nghệ thuật mà xây dựng một hệ sinh thái nhân lực đáp ứng yêu cầu của ngành công nghiệp sáng tạo trong thời đại số.

Khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa gồm 9 chương, 60 điều, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước tham gia hoặc có liên quan đến công nghiệp văn hóa tại Việt Nam. Luật được thiết kế theo hướng không lặp lại những quy định đã có trong các luật chuyên ngành, mà tập trung xử lý những “điểm mờ”, “khoảng trống” và “điểm nghẽn” đang cản trở sự phát triển của ngành.

1786694614303_1570188757102498738_4035587097156744569_8a3e69734ab27ca438e160d7f30d3c9d.jpg
Tiết mục biểu diễn của học sinh Trường Trung học phổ thông Yên Viên tại “Chương trình tổng kết Đề án sân khấu học đường tại các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông Hà Nội năm 2026”. Ảnh: Trường Trung học phổ thông Yên Viên

Theo hồ sơ Dự thảo, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giai đoạn 2018-2025 ước đạt 4-5%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là tối thiểu 7%. Để đạt mục tiêu này, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện chính sách mà còn phải khơi thông các nguồn lực xã hội, tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp và lực lượng sáng tạo phát triển.

Điểm đáng chú ý, Dự thảo tiếp cận công nghiệp văn hóa như một chuỗi giá trị kinh tế, từ sáng tạo, hình thành tài sản trí tuệ, huy động vốn, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng, tạo doanh thu và tái đầu tư. Trên nền tảng đó, Dự thảo tập trung vào các nhóm chính sách về hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường, tài chính và ưu đãi đầu tư.

Đánh giá về Dự thảo, Giám đốc điều hành Học viện đào tạo thiết kế 3D chuyên nghiệp Lumina Academy Nguyễn Vũ Thùy Linh cho rằng, các quy định về tài sản trí tuệ, tài sản số, bộ công cụ sáng tạo và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát là những nội dung có ý nghĩa đối với lực lượng sáng tạo trẻ, nhất là trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức sản xuất nội dung.

Bà Nguyễn Vũ Thùy Linh cũng chia sẻ thêm, điểm đáng chú ý của Dự thảo là đã đặt hoạt động sáng tạo, công nghệ, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực trong cùng một hệ sinh thái phát triển. Công nghiệp văn hóa vì thế không chỉ được nhìn nhận ở phạm vi nghệ thuật mà còn bao gồm thiết kế sáng tạo, phần mềm, trò chơi giải trí và các hoạt động ứng dụng công nghệ. Đây là cách tiếp cận phù hợp với sự phát triển của các ngành 3D, game, animation, VFX, digital art và nội dung số.

Trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội, Tiến sĩ Nguyễn Đức Chiện, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, điểm rõ nét trong Dự thảo là sự thay đổi về tư duy quản trị văn hóa. Từ mô hình truyền thống, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổ chức, đầu tư và quản lý hoạt động văn hóa, tư duy về công nghiệp văn hóa đòi hỏi chuyển sang mô hình Nhà nước kiến tạo - thị trường - doanh nghiệp - cộng đồng sáng tạo - người dân cùng tham gia.

1784123356745_200958021486512049_200958021486512049_8aa27b67f197569623c2566fceba2c6b.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Đức Chiện, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đánh giá cao Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Ảnh: NVCC

“Có thể nói, đây là một chuyển dịch rất đáng chú ý ở các khía cạnh: Văn hóa được nhìn nhận đồng thời như giá trị tinh thần và nguồn lực phát triển; Luật có ý nghĩa trong việc thể chế hóa hệ sinh thái sáng tạo; xu hướng huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa; gắn công nghiệp văn hóa với chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo”, Tiến sĩ Nguyễn Đức Chiện nói.

Chất lượng nguồn nhân lực được đặt ở vị trí trung tâm

Một trong những nội dung đáng chú ý của Dự thảo Luật là cách tiếp cận tương đối toàn diện đối với bài toán nhân lực, từ phát hiện năng khiếu, đào tạo, thực hành đến thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao.

Điểm mới trước hết là việc xây dựng Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa. Thay vì chỉ đào tạo theo những ngành học có sẵn, Dự thảo đặt vấn đề xác định yêu cầu năng lực đối với từng nhóm nhân lực, vị trí việc làm và cấp độ năng lực. Khung này được xây dựng phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam, đồng thời tham khảo có chọn lọc các chuẩn năng lực quốc tế. Cách tiếp cận này phù hợp với đặc thù của công nghiệp văn hóa, nơi nhu cầu nhân lực không chỉ dừng ở nghệ sĩ hay người làm chuyên môn, mà còn bao gồm nhà sản xuất, quản trị, truyền thông, marketing, kinh doanh, thiết kế, công nghệ và nhiều vị trí mới xuất hiện cùng quá trình chuyển đổi số.

Dự thảo đồng thời hướng tới thu hẹp khoảng cách giữa nhà trường và thị trường lao động, cho phép doanh nghiệp, nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo; khuyến khích đào tạo tại studio, nhà hát, bảo tàng, doanh nghiệp, tổ chức nghề nghiệp và nền tảng số.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Chiện nhìn nhận nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa có thể được tiếp cận ở ba tầng. Thứ nhất là nhân lực sáng tạo, gồm nghệ sĩ, nhà thiết kế, biên kịch, đạo diễn, nhà nghiên cứu, kiến trúc sư, lập trình viên, nhà sản xuất nội dung... Đây là lực lượng tạo ra giá trị cốt lõi của sản phẩm văn hóa.

Thứ hai là nhân lực quản trị và kinh doanh văn hóa, gồm nhà sản xuất, quản lý dự án, marketing, truyền thông, phân phối, quản trị bản quyền, quản trị tài chính... Đây là lực lượng đưa ý tưởng sáng tạo trở thành sản phẩm có khả năng tồn tại trên thị trường.

Thứ ba là nhân lực công nghệ, gồm những người làm AI, dữ liệu, nền tảng số, công nghệ thực tế ảo, thiết kế số... Lực lượng này ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và phân phối các sản phẩm văn hóa.

“Tôi đặc biệt nhấn mạnh rằng, chất lượng nguồn nhân lực văn hóa không thể giải quyết chỉ bằng chính sách đào tạo mà phụ thuộc vào cả một hệ thống: đào tạo, tuyển dụng, môi trường sáng tạo, thu nhập, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, cơ hội thị trường, chế độ đãi ngộ và khả năng phát triển nghề nghiệp. Nếu Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tạo được một hệ sinh thái như vậy thì đây sẽ là một trong những đóng góp quan trọng nhất của Luật”, TS Nguyễn Đức Chiện nhấn mạnh.

Giám đốc điều hành của Lumina Academy Nguyễn Vũ Thùy Linh cũng đánh giá cao định hướng đào tạo, bồi dưỡng, truyền dạy kỹ năng nghề gắn với chuỗi giá trị; đồng thời ưu tiên phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng liên ngành và khả năng tham gia nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất.

lumina-chuan.jpg
Học viện Lumina Academy đề cao định hướng đào tạo, bồi dưỡng, truyền dạy kỹ năng nghề gắn với chuỗi giá trị. Ảnh: Lumina Academy

“Đây là một định hướng rất đúng, bởi đặc thù của ngành sáng tạo hiện nay là ranh giới giữa nghệ thuật và công nghệ ngày càng mờ đi. Một nhân sự 3D tốt không chỉ cần kỹ năng phần mềm mà còn cần tư duy nghệ thuật, storytelling, khả năng làm việc theo quy trình sản xuất quốc tế, ngoại ngữ, kỹ năng công nghệ mới và đặc biệt là khả năng ứng dụng AI”, bà Nguyễn Vũ Thùy Linh cho biết.

Theo bà Linh, khi Luật được ban hành, chính sách không nên chỉ tập trung hỗ trợ những sản phẩm văn hóa đã hình thành mà cần đầu tư từ gốc vào con người, đặc biệt là thế hệ trẻ có năng lực sáng tạo và công nghệ. Với các lĩnh vực như 3D, game, animation, VFX và digital content, chính sách nhân lực hôm nay sẽ góp phần quyết định năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa Việt Nam từ 5 đến 10 năm tới.