Văn hóa

Từ sức mạnh văn hóa đến động lực tăng trưởng mới

PGS.TS Bùi Hoài Sơn 14/08/2026 - 10:57

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được xây dựng và đưa ra lấy ý kiến trong một thời điểm rất có ý nghĩa, khi văn hóa ngày càng được xác định rõ không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và sức mạnh mềm của quốc gia.

Với Hà Nội - Thủ đô nghìn năm văn hiến, Thành phố sáng tạo của UNESCO, nơi đang đặt mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng - một đạo luật mới càng được kỳ vọng sẽ tạo ra những cơ chế đủ mạnh để chuyển chiều sâu văn hóa thành năng lực sáng tạo, tài sản trí tuệ, sản phẩm, doanh nghiệp và những giá trị mới cho phát triển.

cnvh.jpg
5 nhóm chính sách dự kiến của Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Ảnh: BVHTTDL

Từ sức mạnh văn hóa đến một động lực tăng trưởng mới

Trong nhiều năm nghiên cứu về văn hóa, điều tôi ngày càng cảm nhận rõ là tài nguyên văn hóa của một quốc gia chỉ thực sự trở thành sức mạnh phát triển khi chúng ta biết tổ chức nó thành những giá trị mới. Di sản, nghệ thuật, ký ức, lối sống, tri thức dân gian hay bản sắc dân tộc tự thân đã rất quý giá, nhưng từ những nguồn lực ấy đến sản phẩm có sức sống trong đời sống đương đại, đến một doanh nghiệp có khả năng phát triển, một thương hiệu có khả năng vươn ra thế giới còn là một khoảng cách rất lớn. Khoảng cách ấy chính là không gian của công nghiệp văn hóa.

Sự thay đổi trong tư duy phát triển thời gian qua vì thế có ý nghĩa rất quan trọng. Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14-11-2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định một tầm nhìn dài hạn cho lĩnh vực này, đặt công nghiệp văn hóa trong mối quan hệ chặt chẽ với sáng tạo, tài sản trí tuệ, công nghệ, thị trường và sức cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục tạo ra bước chuyển mạnh hơn khi đặt văn hóa vào vị trí trung tâm chiến lược phát triển, nhấn mạnh con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển văn hóa, đồng thời coi công nghiệp văn hóa là một không gian quan trọng để chuyển hóa giá trị văn hóa thành động lực tăng trưởng mới.

Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội tiếp tục thể chế hóa tinh thần ấy bằng những cơ chế cụ thể hơn về nguồn lực, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo và đặc biệt là thí điểm Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư, đầu tư mạo hiểm, hoạt động theo nguyên tắc thị trường và chấp nhận rủi ro. Điều đáng chú ý không chỉ là chúng ta dành nhiều nguồn lực hơn cho văn hóa, mà là cách tổ chức nguồn lực cho văn hóa đang thay đổi. Tư duy mới không dừng ở câu hỏi “Nhà nước đầu tư bao nhiêu?” mà phải đi tới câu hỏi “Đồng vốn ấy tạo ra năng lực gì, sản phẩm gì, tài sản trí tuệ gì, doanh nghiệp gì và thị trường gì?”.

Phát triển công nghiệp văn hóa cần sáng tạo, bản sắc, độc đáo, chuyên nghiệp- Ảnh 1.
Các ngành công nghiệp văn hóa đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ. Ảnh: Chinhphu.vn

Đặc thù của công nghiệp văn hóa là sáng tạo luôn đi cùng rủi ro. Không phải bộ phim nào cũng thành công, không phải sản phẩm thiết kế nào cũng tìm được thị trường, không phải trò chơi điện tử nào cũng có hàng triệu người sử dụng. Nếu cơ chế tài chính chỉ chấp nhận những dự án chắc chắn thành công thì rất khó nuôi dưỡng sáng tạo, nhưng nếu chấp nhận rủi ro mà thiếu tiêu chí, minh bạch và trách nhiệm giải trình thì lại dễ dẫn tới thất thoát. Luật Phát triển công nghiệp văn hóa phải giúp chúng ta tìm được điểm cân bằng đó, để nguồn lực công thực sự đóng vai trò kích hoạt nguồn lực xã hội, chứ không thay thế thị trường.

Những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển văn hóa càng cho thấy rõ yêu cầu ấy. Tinh thần xuyên suốt là chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển, từ bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa có thể tạo ra tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia. Đặt trong mạch tư duy ấy, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không nên chỉ là một đạo luật để quản lý thêm một lĩnh vực mới. Sứ mệnh lớn hơn phải là kết nối những mắt xích còn rời rạc: kết nối tài nguyên văn hóa với sáng tạo, người sáng tạo với doanh nghiệp, tài sản trí tuệ với vốn, dữ liệu với công nghệ, sản phẩm với thị trường và văn hóa Việt Nam với công chúng toàn cầu.

Hà Nội là một ví dụ rất rõ cho yêu cầu đó. Thủ đô có chiều sâu văn hóa đặc biệt, hệ thống di sản đồ sộ, mạng lưới làng nghề phong phú, đội ngũ nghệ sĩ, trí thức, nhà thiết kế và cộng đồng sáng tạo đông đảo. Nhưng văn hóa chỉ thực sự trở thành lợi thế phát triển khi những giá trị ấy đi vào đời sống kinh tế bằng những phương thức phù hợp. Việc Hà Nội xây dựng bộ chỉ tiêu thống kê các ngành công nghiệp văn hóa, phát triển hệ sinh thái sáng tạo và đặt mục tiêu nâng cao đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GRDP cho thấy thành phố đang từng bước chuyển từ cách nhìn định tính sang quản trị dựa trên dữ liệu và hiệu quả. Đây là hướng đi cần thiết nếu Hà Nội muốn biến danh hiệu Thành phố sáng tạo thành năng lực sáng tạo thực chất.

Luật phải mở đường cho sáng tạo, không tạo thêm một vòng “xin - cho”

Nếu coi công nghiệp văn hóa là một động lực tăng trưởng mới, thì điều cần quan tâm nhất trong Dự thảo Luật không phải là tạo ra càng nhiều ưu đãi càng tốt, mà là xây dựng một hệ sinh thái có khả năng tự vận hành.

Trước hết, Luật phải thực sự đặt con người sáng tạo vào trung tâm. Nói đến công nghiệp văn hóa, chúng ta thường nghĩ đến nghệ sĩ, nhưng hệ sinh thái thực tế rộng hơn rất nhiều: đạo diễn, biên kịch, nhà sản xuất, nhà thiết kế, lập trình viên, kỹ sư công nghệ, chuyên gia sở hữu trí tuệ, marketing, quản trị và phân phối. Một nền công nghiệp văn hóa mạnh không thể hình thành nếu người sáng tạo vẫn là mắt xích yếu nhất, khó tiếp cận vốn, khó tìm không gian sáng tạo, khó bảo vệ quyền và khó sống bền vững bằng nghề của mình. Luật phải tạo ra môi trường để tài năng được phát hiện, đào tạo, trọng dụng và có điều kiện phát triển nghề nghiệp.

Thứ hai, Luật cần coi tài sản trí tuệ là một nguồn lực kinh tế thực sự. Nhiều doanh nghiệp sáng tạo không sở hữu nhiều đất đai, nhà xưởng hay máy móc; tài sản lớn nhất của họ là kịch bản, nhân vật, thương hiệu, phần mềm, thiết kế, bản quyền hay cộng đồng người dùng. Nếu hệ thống tài chính vẫn chủ yếu nhìn vào tài sản hữu hình để cho vay thì doanh nghiệp sáng tạo luôn gặp bất lợi. Vì thế, định giá tài sản trí tuệ, phát triển dữ liệu giao dịch, cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro có thể trở thành một trong những điểm đột phá quan trọng nhất của Luật.

Thứ ba, cần đặc biệt coi trọng dữ liệu văn hóa. Trong kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo, một phần rất lớn tài nguyên tương lai của công nghiệp văn hóa nằm ở khả năng biến di sản, lịch sử, thư tịch, âm nhạc, hình ảnh, kiến trúc, tri thức dân gian thành dữ liệu có nguồn gốc, định danh, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm và tái sử dụng hợp pháp. Với Hà Nội, kho dữ liệu về Thăng Long - Hà Nội, phố cổ, làng nghề, ẩm thực, kiến trúc, nghệ thuật truyền thống hoàn toàn có thể trở thành nguyên liệu cho phim, game, thiết kế, hoạt hình, du lịch số và AI. Nếu dữ liệu chỉ được lưu trữ mà không thể kết nối và khai thác hợp pháp thì chúng ta mới chỉ bảo quản tài nguyên, chưa biến tài nguyên thành nguồn lực phát triển.

tour-dem-van-mieu.jpg
Trải nghiệm tour đêm Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Ảnh: V.M

Nhưng cùng với việc mở đường phải là kiểm soát những rủi ro của chính sách. Tôi cho rằng cần rất thận trọng với việc ưu đãi quá rộng theo khu, cụm hay danh hiệu. Một doanh nghiệp không nên được hưởng mức ưu đãi cao chỉ vì nằm trong một “khu sáng tạo”; cần nhìn vào kết quả thực tế: doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu tài sản trí tuệ, bao nhiêu việc làm chất lượng cao, đóng góp thế nào vào xuất khẩu, nghiên cứu - phát triển, chuyển giao công nghệ, phát triển công chúng và thương hiệu quốc gia. Một công trình văn hóa cũng cần phải đánh giá hiệu suất sử dụng, khả năng tạo ra các hoạt động và tác động đối với cộng đồng.

Đối với Hà Nội, điều này càng có ý nghĩa. Lễ hội Thiết kế sáng tạo và những không gian sáng tạo mới đã góp phần định vị hình ảnh một Thủ đô trẻ trung hơn, cởi mở hơn với sáng tạo. Nhưng điều cần hướng tới không chỉ là tổ chức một lễ hội hấp dẫn, mà là sau lễ hội có thêm bao nhiêu không gian sáng tạo được duy trì, bao nhiêu doanh nghiệp được kết nối và bao nhiêu tài sản trí tuệ mới được hình thành. Một sự kiện chỉ thực sự trở thành một phần của công nghiệp văn hóa khi nó tạo được chuỗi giá trị kéo dài sau khi sân khấu đã khép lại.

Một vấn đề cần lưu ý là nguy cơ hình thành một vòng “xin - cho” mới. Những khái niệm như sản phẩm trọng điểm, tài sản trí tuệ trọng điểm, thương hiệu quốc gia hay sản phẩm mang bản sắc Việt Nam đều có ý nghĩa chính sách, nhưng nếu mỗi khái niệm lại kéo theo hồ sơ, hội đồng, giấy chứng nhận và quyền hưởng ưu đãi, chúng ta có thể vô tình hành chính hóa sáng tạo. Nhà nước cần hỗ trợ những sản phẩm có giá trị, nhưng tiêu chí phải công khai, cạnh tranh, có hội đồng độc lập, kiểm soát xung đột lợi ích và đánh giá kết quả sau hỗ trợ.

Tinh thần mà tôi cho rằng cần xuyên suốt Luật là Nhà nước không làm thay thị trường, không lựa chọn thay công chúng và không hành chính hóa sáng tạo; Nhà nước kiến tạo hạ tầng, bảo vệ quyền, chia sẻ những rủi ro mà thị trường chưa thể gánh vác và mở ra cơ hội công bằng để tài năng được phát triển. Nhìn từ Hà Nội, triết lý đó càng trở nên rõ ràng. Điều cần thiết nhất là một thể chế giúp những nguồn lực ấy kết nối với nhau, để di sản không chỉ được bảo tồn mà còn sinh ra sản phẩm mới; để người trẻ không chỉ yêu Hà Nội mà có thể sống bằng việc sáng tạo từ Hà Nội; để doanh nghiệp không chỉ khai thác thị trường mà trở thành những chủ thể xây dựng thương hiệu văn hóa Thủ đô.

Thước đo cuối cùng của Luật Phát triển công nghiệp văn hóa vì thế không nên là chúng ta có thêm bao nhiêu quỹ, bao nhiêu khu sáng tạo hay bao nhiêu chương trình hỗ trợ. Điều cần nhìn thấy phải là có nhiều người Việt Nam sống được bằng sáng tạo hơn, nhiều tài sản trí tuệ Việt Nam được hình thành hơn, nhiều doanh nghiệp văn hóa lớn mạnh hơn, nhiều sản phẩm Việt Nam có thị trường hơn và sức hấp dẫn của văn hóa Việt Nam lan tỏa mạnh mẽ hơn. Khi tạo ra được những chuyển biến đó, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ không chỉ là một đạo luật của ngành Văn hóa mà trở thành một nền tảng thể chế để chuyển sức mạnh văn hóa thành sức sản xuất, sức cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới của đất nước.