Giáo dục

Chuẩn bị năng lực hội nhập từ trường phổ thông

Thống Nhất 11/08/2026 - 19:41

Hà Nội đang từng bước đưa cơ hội học tập, giao lưu quốc tế đến gần hơn với học sinh phổ thông, giúp các em rèn ngoại ngữ, kỹ năng hội nhập.

1786448356486_1502990712121417267_7231735937350052276_f0962452b6c613dc58c76b930782921d.jpg
Học sinh Fukuoka (Nhật Bản) cùng trải nghiệm gói chánh chưng, tìm hiểu văn hóa Việt Nam. Ảnh: CTV

Năm học mới, Hà Nội đẩy mạnh triển khai Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, đồng thời mở rộng các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế trong trường học. Qua đó, học sinh có thêm cơ hội rèn ngoại ngữ, giao tiếp, làm quen với những môi trường, văn hóa khác nhau, tạo nền tảng cho quá trình học tập và hội nhập ở những bậc học cao hơn.

Học từ những trải nghiệm ngoài lớp học

Với Hà Nội, quá trình này đang được thúc đẩy từ chính trường phổ thông, thông qua việc triển khai Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, mở rộng giao lưu quốc tế và tạo thêm cơ hội để học sinh trực tiếp trải nghiệm những môi trường giáo dục, văn hóa khác nhau.

Học sinh Fukuoka (Nhật Bản) cùng học tập với học sinh Trường THCS & THPT Phenikaa. Ảnh: CTV
Học sinh Fukuoka (Nhật Bản) cùng học tập với học sinh Trường THCS & THPT Phenikaa. Ảnh: CTV

Những ngày giao lưu giữa học sinh Hà Nội và tỉnh Fukuoka (Nhật Bản), từ ngày 1 đến 7-8, là một ví dụ cho cách năng lực hội nhập có thể được hình thành từ những trải nghiệm gần gũi với học sinh phổ thông.

Trong chương trình giao lưu năm 2026, 45 học sinh Fukuoka cùng 45 học sinh của các trường Trung học phổ thông Việt Đức, Trung học phổ thông Phan Đình Phùng, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Phenikaa đã cùng học tập, giao lưu, tìm hiểu lịch sử, văn hóa và đời sống của hai nước. Học sinh Nhật Bản còn có những ngày ở cùng gia đình học sinh Hà Nội theo hình thức homestay, cùng ăn, cùng sinh hoạt và trải nghiệm đời sống gia đình Việt Nam.

Với Miku Imamura, một học sinh tỉnh Fukuoka lần đầu ra nước ngoài, sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa ban đầu khiến em lo lắng. Nhưng sự thân thiện của gia đình chủ nhà, thầy cô và học sinh Việt Nam giúp em nhanh chóng cảm thấy an tâm. Từ trải nghiệm đó, nữ sinh nhận ra rằng ngay cả khi không thể giao tiếp hoàn hảo bằng ngôn ngữ, con người vẫn có thể thấu hiểu nhau bằng sự quan tâm và nụ cười. Đó là những bài học khó có thể có được chỉ từ một giờ học trên lớp.

Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Phạm Quốc Toản đánh giá, những trải nghiệm trong chương trình giao lưu không chỉ giúp học sinh hiểu thêm về truyền thống, bản sắc văn hóa và môi trường giáo dục của mỗi quốc gia, mà còn mang đến những bài học về sự sẻ chia, tôn trọng sự khác biệt và tinh thần hợp tác.

Từ những chương trình như vậy, “hội nhập quốc tế” với học sinh không còn là một khái niệm xa xôi. Đó có thể là việc làm quen với một người bạn đến từ quốc gia khác, cùng tham gia một giờ học, chia sẻ một bữa cơm gia đình, tìm hiểu một nền văn hóa hay học cách diễn đạt suy nghĩ của mình trong một môi trường khác biệt.

Học sinh Hà Nội và Fukuoka (Nhật Bản) cùng giao lưu, trải nghiệm văn hóa. Ảnh: C
Học sinh Hà Nội và Fukuoka (Nhật Bản) cùng giao lưu, trải nghiệm văn hóa. Ảnh: CTV

Khi tiếng Anh được sử dụng nhiều hơn trong môi trường giáo dục, cùng với các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế, học sinh có thêm cơ hội rèn sự tự tin và khả năng thích ứng. Đây là hành trang cần thiết để các em tiếp tục học tập trong những môi trường đa dạng hơn sau này.

Từ nền tảng phổ thông đến những lựa chọn rộng hơn

Sự thay đổi trong môi trường giáo dục phổ thông cũng diễn ra trong bối cảnh nhu cầu tiếp cận giáo dục quốc tế của người học Việt Nam ngày càng lớn.

sinh-vien-phong-van-truc-tiep-voi-doanh-nghiep-tai-ngay-hoi-viec-lam.jpg
Những mô hình đào tạo quốc tế tại Việt Nam đang tạo thêm lựa chọn cho người học. Ảnh: CTV

Theo số liệu được dẫn tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2025 do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, có gần 250.000 công dân Việt Nam đang học tập ở nước ngoài. Con số này phản ánh nhu cầu tiếp cận các chương trình và môi trường học thuật quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu mở rộng cơ hội để người học tiếp cận chuẩn mực giáo dục quốc tế ngay tại Việt Nam.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thu Thủy, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhận định các cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần mở rộng lựa chọn “du học tại chỗ”, đồng thời đưa vào Việt Nam phương pháp giảng dạy, cơ chế bảo đảm chất lượng, kinh nghiệm quản trị và môi trường học thuật đa văn hóa.

Tuy nhiên, những lựa chọn ấy chỉ thực sự phát huy giá trị khi người học có nền tảng đủ tốt để thích ứng với môi trường quốc tế. Đó cũng là lý do câu chuyện quốc tế hóa giáo dục không thể chỉ đặt ở bậc đại học.

Theo Tiến sĩ Lê Viết Khuyến, Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, chất lượng của một môi trường giáo dục quốc tế không thể chỉ được khẳng định bằng thương hiệu nước ngoài hay việc giảng dạy bằng tiếng Anh, mà phải được thể hiện trong chương trình, đội ngũ giảng viên, phương pháp đào tạo và kết quả kiểm định độc lập.

Nhìn từ yêu cầu đó, chuẩn bị năng lực hội nhập cho học sinh phổ thông cũng không đồng nghĩa với việc chạy theo những yếu tố mang tính hình thức của “quốc tế”. Cốt lõi vẫn là chất lượng giáo dục, ngoại ngữ, khả năng tự học, tư duy độc lập, kỹ năng hợp tác và khả năng thích ứng với sự khác biệt.

Ở bậc đại học, những mô hình đào tạo quốc tế tại Việt Nam đang tạo thêm lựa chọn cho người học. Chẳng hạn, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) triển khai các chương trình đại học của Anh quốc, đồng thời xây dựng mạng lưới đối tác học thuật và doanh nghiệp quốc tế. Những mô hình như vậy cho thấy khi giáo dục quốc tế được phát triển ngay tại Việt Nam, người học có thêm cơ hội tiếp cận môi trường học thuật đa văn hóa mà không nhất thiết phải ra nước ngoài.

Những hoạt động giao lưu, trải nghiệm như với học sinh tỉnh Fukuoka (Nhật Bản), cùng việc tăng cường sử dụng tiếng Anh trong trường học đang mở thêm cơ hội để học sinh Hà Nội làm quen với môi trường quốc tế ngay từ phổ thông. Đây cũng là bước chuẩn bị cần thiết để các em tự tin hơn trong học tập và làm việc sau này.