Tư vấn

Người thực hành công tác xã hội không bắt buộc làm đủ giờ hành chính

Vũ Linh 10/08/2026 - 09:29

Từ ngày 25-8-2026, người thực hành công tác xã hội có thể chủ động sắp xếp thời gian thực hành trên cơ sở thỏa thuận với cơ sở thực hành, thay vì bắt buộc phải thực hành theo toàn bộ khung giờ hành chính hoặc giờ làm việc của cơ sở.

Đây là một trong những điểm đáng chú ý tại Thông tư 29/2026/TT-BYT của Bộ Y tế quy định về thực hành công tác xã hội và cập nhật kiến thức công tác xã hội.

Quy định mới về thời gian thực hành công tác xã hội

Theo Điều 4 Thông tư 29/2026/TT-BYT, thời gian thực hành công tác xã hội được xác định tương ứng với trình độ đào tạo của người thực hành.

Cụ thể, người có trình độ đại học trở lên phải thực hành từ đủ 12 tháng, tương ứng 800 giờ thực hành trong khoảng thời gian đăng ký thực hành.

Đối với người có trình độ cao đẳng, thời gian thực hành từ đủ 9 tháng, tương ứng 650 giờ thực hành. Trong khi đó, người có trình độ trung cấp phải thực hành từ đủ 6 tháng, tương ứng 500 giờ thực hành.

Đáng chú ý, Thông tư quy định cơ sở thực hành công tác xã hội và người thực hành được sắp xếp thời gian hợp lý trên cơ sở thỏa thuận để bảo đảm thực hành đủ nội dung theo quy định. Người thực hành không bắt buộc phải thực hành đủ thời gian theo giờ hành chính hoặc giờ làm việc của cơ sở.

w_1785894669466_1933895679847012797_3357471376574702579_be85c6c32f43a5618dec40fc11bfc9a2-1-.jpg
Từ ngày 25-8-2026, người thực hành công tác xã hội không bắt buộc thực hành theo giờ hành chính, được thỏa thuận thời gian nhưng vẫn phải bảo đảm đủ nội dung và thời lượng theo quy định. Ảnh minh họa: Tuệ Lâm

Như vậy, quy định mới tạo ra sự linh hoạt về thời gian nhưng không làm thay đổi yêu cầu về tổng thời lượng và nội dung chuyên môn mà người thực hành phải hoàn thành.

Một điểm đáng chú ý khác tại Thông tư 29/2026/TT-BYT là trong quá trình thực hành công tác xã hội, người thực hành được tham gia tập huấn các quy định pháp luật với tổng thời lượng 10 buổi. Thời gian tập huấn này được tính vào tổng thời gian thực hành công tác xã hội.

Để được tính thời gian, người thực hành phải cung cấp tài liệu minh chứng về việc tham gia tập huấn cho cơ sở thực hành. Đây là căn cứ để cơ sở thực hành tính thời gian thực hành công tác xã hội cho người thực hành.

Quy định này vừa tạo điều kiện để người thực hành bổ sung kiến thức pháp luật cần thiết, vừa đặt ra yêu cầu về chứng minh quá trình tham gia tập huấn. Qua đó, hạn chế tình trạng thời gian tập huấn được tính vào quá trình thực hành nhưng không có tài liệu xác nhận.

Việc đưa thời gian tập huấn pháp luật vào tổng thời gian thực hành có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động công tác xã hội. Đây là lĩnh vực thường xuyên liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp và hoàn cảnh đặc thù của nhiều nhóm đối tượng, vì vậy kiến thức pháp luật là một bộ phận quan trọng trong năng lực nghề nghiệp.

Việc yêu cầu cung cấp tài liệu minh chứng cũng giúp cơ sở thực hành có căn cứ khách quan khi xác nhận thời gian thực hành, bảo đảm tính minh bạch của quá trình đào tạo và thực hành.

Có thể linh hoạt thời gian nhưng không được giảm yêu cầu thực hành

Theo luật sư Đinh Thị Nguyên, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, điểm đáng chú ý của quy định mới nằm ở việc tách bạch giữa thời gian thực hành theo khung giờ và tổng thời lượng, nội dung thực hành bắt buộc.

Việc không yêu cầu người thực hành phải có mặt theo toàn bộ giờ hành chính giúp cơ sở thực hành và người thực hành chủ động hơn trong việc bố trí lịch. Điều này đặc biệt phù hợp với những trường hợp người thực hành đang đồng thời học tập, làm việc hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội có hoạt động ngoài giờ hành chính.

Tuy nhiên, sự linh hoạt này không đồng nghĩa với việc được rút ngắn thời gian thực hành hoặc bỏ qua các nội dung chuyên môn. Người thực hành vẫn phải bảo đảm đủ 800 giờ, 650 giờ hoặc 500 giờ tương ứng với trình độ đào tạo và hoàn thành đầy đủ nội dung thực hành theo quy định.

Luật sư Đinh Thị Nguyên cho rằng, quy định này tạo sự cân bằng giữa yêu cầu quản lý chuyên môn và nhu cầu thực tế của người thực hành. Việc cho phép các bên thỏa thuận thời gian giúp hạn chế những vướng mắc về lịch làm việc, nhưng trách nhiệm của cơ sở thực hành là phải bảo đảm quá trình thực hành diễn ra thực chất, đúng nội dung và có sự hướng dẫn theo quy định.

Do đó, cơ sở thực hành không thể chỉ căn cứ vào việc người thực hành đã tham gia đủ một khoảng thời gian nhất định mà xác nhận hoàn thành nếu chưa bảo đảm đầy đủ nội dung và tổng số giờ thực hành theo yêu cầu.

Thông tư 29/2026/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 25-8-2026, trong đó quy định về thời gian thực hành được kỳ vọng tạo thuận lợi hơn cho cả cơ sở thực hành và người thực hành công tác xã hội.

Thay vì áp dụng cứng nhắc theo giờ hành chính hoặc giờ làm việc của cơ sở, thời gian thực hành được bố trí trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên. Tuy nhiên, việc sắp xếp này phải bảo đảm người thực hành hoàn thành đầy đủ nội dung và thời lượng thực hành theo trình độ đào tạo.

Quy định mới vì vậy không chỉ tạo thêm tính linh hoạt trong tổ chức thực hành mà còn đặt trách nhiệm lớn hơn lên cơ sở thực hành trong việc quản lý, hướng dẫn và xác nhận quá trình thực hành.

Về lâu dài, cơ chế này có thể góp phần giải quyết những khó khăn về thời gian đối với người học, đồng thời phù hợp hơn với đặc thù hoạt động của các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội.