Đưa nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống:Tăng dư địa tín dụng hỗ trợ tăng trưởng hai con số
Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng về mục tiêu tăng trưởng hai con số cho giai đoạn 2026-2030, Chính phủ đang tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó tín dụng, ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong việc khơi thông nguồn vốn, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và tạo động lực cho tăng trưởng.
Với vai trò của mình, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động ban hành nhiều văn bản điều hành về kỹ thuật chính sách tín dụng để tạo thêm dư địa cho các tổ chức tín dụng mở rộng cung ứng vốn vào nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên 10%.

Tăng dư địa tín dụng bằng biện pháp kỹ thuật
Để “bơm” vốn tín dụng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, cách thông thường là Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ thông qua cắt giảm lãi suất là chủ yếu. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ này không được phép lựa chọn trong bối cảnh hiện nay. Bởi vì, mối đe dọa lạm phát trên toàn cầu vẫn treo lơ lửng do bất ổn định địa chính trị ở Trung Đông, với tác động tăng giá năng lượng và chi phí logistics chưa có dấu hiệu chấm dứt. Do đó, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng biện pháp kỹ thuật tác động, chuyển từ công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp, từ đó làm tăng dư địa để hệ thống tổ chức tín dụng “bơm” thêm vốn vào nền kinh tế hỗ trợ tăng trưởng. Biện pháp này cho phép Ngân hàng Nhà nước chủ động trong điều chỉnh liều lượng về quy mô và thời gian mong muốn.
Biện pháp thứ nhất là quy định tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn là 40% theo Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1-7-2026. Tỷ lệ này theo quy định cũ là 30%. Mục đích nới lỏng tỷ lệ giúp các tổ chức tín dụng cân đối thêm nguồn vốn trung dài hạn. Theo Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ vốn huy động trung dài hạn hiện chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng vốn huy động của hệ thống. Tính toán theo thông tư này, dư địa nguồn vốn tín dụng trung dài hạn của tổ chức tín dụng được tăng thêm khoảng 8%.
Biện pháp thứ hai là tăng tỷ lệ cho vay so với tổng tiền gửi. Quyết định số 1743/QĐ-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1-8-2026, quy định tăng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước có kỳ hạn được khấu trừ khi tính tỷ lệ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) từ 20% lên 50%. Biện pháp này cho phép tổ chức tín dụng tăng quy mô vốn cho vay trong tổng nguồn vốn tiền gửi của tổ chức tín dụng, qua đó cải thiện cân đối nguồn vốn cho vay, khả năng thanh khoản và góp phần tăng lợi nhuận.
Biện pháp thứ ba là không tính vào hạn mức tăng trưởng tín dụng phần dư nợ tín dụng cấp cho các đối tượng chọn lọc theo Công văn số 5386/NHNN-TD. Theo đó, dư nợ tín dụng của 18 đại dự án do 3 tập đoàn lớn gồm Vingroup, Sun Group, Masterise thực hiện được loại trừ khỏi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của tổ chức tín dụng.
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tổng nguồn vốn mà 3 doanh nghiệp trên cần huy động tín dụng là 752.138 tỷ đồng. Cùng với đó, theo Công văn số 4551/NHNN-CSTT, phần dư nợ tăng thêm (cuối năm 2026 so với cuối năm 2025) của các khoản cho vay bất động sản là nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất cũng không tính vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của tổ chức tín dụng.
Mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước trong biện pháp thứ ba là vừa đáp ứng vốn cho các dự án hạ tầng lớn, vừa nắn dòng vốn tín dụng chảy mạnh vào các lĩnh vực có tác động lan tỏa đến tăng trưởng GDP như: Vật liệu, xây dựng, thiết bị nội thất…
Gánh nặng trong điều hành chính sách
Với ba biện pháp nói trên, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng sẽ tác động hiệu quả hỗ trợ nền kinh tế bứt tốc tăng trưởng trong năm 2026 và các năm tiếp theo. Tuy nhiên, để kích thích tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, từng chính sách kinh tế vĩ mô phải được đặt đúng vị thế. Đối với kích thích tăng trưởng nền kinh tế, chính sách tài khóa là tác nhân chủ yếu và chính sách tiền tệ có tích cực đến mấy cũng chỉ là hỗ trợ tăng trưởng.
Chính sách tài khóa bằng biện pháp tăng đầu tư công và cắt giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển tăng quy mô sản lượng, giá trị gia tăng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, đến nay, tổng vốn đầu tư công năm 2026 được Chính phủ giao là 1.023.413 tỷ đồng vẫn là con số theo kế hoạch, chưa có sự điều chỉnh. Trong khi đó, kết quả giải ngân vốn đầu tư công đến cuối tháng 7-2026 chỉ đạt gần 42%.
Về chính sách thuế, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ, chiều 3-8 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chỉ đạo giao Bộ Tài chính nghiên cứu giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) trong điều kiện nền kinh tế đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số năm 2026.
Rất kịp thời, ngày 7-8, Bộ Tài chính đã có dự thảo thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội giảm 30% thuế thu nhập trong năm 2026-2027 cho hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có mức doanh thu tối đa 10 tỷ đồng. Tuy nhiên, bản chất của chính sách thuế này là hỗ trợ khó khăn cho đối tượng nộp thuế là doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ và cá nhân kinh doanh là chủ yếu.
Điều đó cho thấy, chính sách tiền tệ từ vị thế vai phụ, bắt buộc đóng vai trò vừa phụ vừa chính. Chính vì vậy, việc mở rộng dư địa tín dụng, tác động hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, chắc chắn không tránh khỏi một số tác động bất lợi cho chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.
Tổng nguồn vốn trong nền kinh tế tại một thời điểm là con số nhất định. Khả năng huy động vốn của tổ chức tín dụng chỉ tăng mạnh khi mặt bằng lãi suất tiền gửi tăng đáng kể và thị trường tiền gửi đủ lực cạnh tranh với thị trường chứng khoán, bất động sản và vàng. Dĩ nhiên, lãi suất tăng trong điều kiện room tín dụng tăng sẽ đẩy chi phí vốn tăng. Hệ quả là tăng trưởng phải trả giá bằng lạm phát chi phí đẩy.
Vậy, Ngân hàng Nhà nước bằng cách nào phủ sóng nguồn vốn cho dư địa tín dụng tăng thêm theo mong muốn? Đương nhiên, Ngân hàng Nhà nước sẽ sử dụng linh hoạt nhiều biện pháp. Nhưng quả thực là khó khăn khi vừa phải “bơm” thêm một khối lượng lớn tín dụng vào nền kinh tế, vừa bảo đảm kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá.
Có thể cho rằng, việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật tăng dư địa tín dụng cho các tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước được đặt ra trong tình thế phải xử lý tình huống đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế hai con số. Thực tế chắc chắn sẽ phát sinh một số khó khăn nhất định. Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng sẽ xử lý thành công.
Tổ chức tín dụng hưởng lợi nhưng áp lực tăng
Việc mở rộng dư địa tín dụng là điều kiện để các tổ chức tín dụng tăng thêm dư nợ và lợi nhuận. Tuy nhiên, thực tế tín dụng 7 tháng của năm 2026 của hệ thống tăng trưởng 8,38%, trong khi tốc độ tăng trưởng huy động vốn chỉ đạt 6,07%, chênh lệch hụt tới 2,3%. Đây là mức chênh lệch đáng chú ý.
Một số tổ chức tín dụng tư nhân đã chấp nhận thu hẹp biên lợi nhuận để nâng lãi suất tiền gửi kỳ hạn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi đáp ứng nguồn vốn cho mục tiêu tăng trưởng tín dụng. Mới đây, trong 3 ngày cuối tháng 7, Sacombank đã phát hành riêng lẻ 3 lô trái phiếu, tổng giá trị 3.650 tỷ đồng với mức lãi suất cố định lên mức 10%.
Với 18 đại dự án tại phụ lục 1 kèm theo Công văn số 5386/NHNN-TD, nhu cầu vốn tín dụng trong 3 năm từ 2026 đến 2028 là khoảng 641.000 tỷ đồng, chiếm trên 85% tổng vốn tín dụng doanh nghiệp cần huy động. Đây là gánh nặng huy động nguồn vốn trung dài hạn để đáp ứng nhu cầu cho vay của các tổ chức tín dụng. Để có được nguồn vốn đó, các tổ chức tín dụng phải trông vào nguồn vốn phát hành trái phiếu dài hạn.
Cách phát hành trái phiếu riêng lẻ với lãi suất cao như trường hợp Sacombank nói trên cũng không kỳ vọng huy động nguồn vốn lớn hàng trăm nghìn tỷ đồng. Vậy, phát hành trái phiếu ra công chúng có tốt hơn không? Câu trả lời là tốt hơn. Nhưng làm sao để các ngân hàng có thể sớm phát hành trái phiếu niêm yết là câu chuyện cần bàn và mang tính thời sự trong lúc này.
Ngoài khó khăn trong huy động nguồn vốn, các tổ chức tín dụng tham gia cho vay sẽ chịu áp lực về dòng tiền hoàn trả tín dụng. Cũng theo phụ lục 1 nói trên, trong 18 đại dự án có 3 đại dự án sẽ có dòng tiền hoàn trả nợ vay bằng khai thác quỹ đất (PPP-BT) và các đại dự án còn lại sẽ có dòng tiền hoàn trả nợ vay từ nguồn thu khai thác dự án nhiều năm.
Trong thẩm định dòng tiền thu nhập trả nợ đối với dự án đầu tư bình thường, tổ chức tín dụng luôn ở thế chủ động, nhưng trong trường hợp với 18 đại dự án lại khá phức tạp. Dòng tiền thu nhập trả nợ của từng đại dự án phát sinh như thế nào phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố nằm ngoài vòng kiểm soát của tổ chức tín dụng.
Thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Chính phủ đang quyết liệt triển khai đồng bộ các giải pháp, trong đó Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong điều hành tín dụng. Khơi thông nguồn vốn đúng hướng, cùng với chính sách tài khóa hiệu quả, sẽ tạo thêm động lực để nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững.