Y tế

Cục trưởng Cục Dân số (Bộ Y tế) Lê Thanh Dũng:Xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh, hùng cường

Mai Khôi thực hiện 09/08/2026 - 07:00

Đầu tư cho “dân số và phát triển”, lấy con người làm trung tâm; chuyển từ tư duy “chữa bệnh” sang “chăm sóc sức khỏe” theo suốt vòng đời là điểm mới nổi bật của Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035, vì một nước Việt Nam khỏe mạnh, phát triển bền vững...

Để làm rõ hơn nội dung này, phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội có cuộc trao đổi với Cục trưởng Cục Dân số (Bộ Y tế) Lê Thanh Dũng.

2-kham.jpg
Khám, tư vấn sức khỏe cho người cao tuổi tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban ngày cho người cao tuổi (phường Long Biên). Ảnh: Nguyễn Quang

Đầu tư từ sớm để nâng cao chất lượng dân số

- Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, trong khi mức sinh giảm mạnh và nhu cầu chăm sóc người cao tuổi ngày càng lớn. Vậy, đâu là những thách thức với công tác dân số hiện nay và vì sao cần triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển ở thời điểm này, thưa ông?

2-o-dung.jpg
Cục trưởng Cục Dân số Lê Thanh Dũng.

- Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức mang tính chiến lược về dân số, tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước. Đáng chú ý, mức sinh đã giảm xuống dưới mức sinh thay thế, từ 2,11 con/phụ nữ năm 2021 xuống còn 1,91 con năm 2024 và 1,93 con năm 2025. Nếu xu hướng này tiếp tục kéo dài, nước ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực, suy giảm quy mô dân số trong tương lai, đồng thời đẩy nhanh tốc độ già hóa dân số.

Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và dự kiến trở thành quốc gia “dân số già” vào năm 2034. Quá trình này tạo áp lực rất lớn đối với hệ thống y tế, an sinh xã hội, thị trường lao động và các dịch vụ hỗ trợ cộng đồng. Bên cạnh đó, chất lượng dân số chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn ở mức cao, trong khi tỷ lệ tầm soát trước sinh và sơ sinh ở nhiều địa phương còn thấp.

Những vấn đề này đều có tác động lâu dài và khó tạo chuyển biến nếu chỉ thực hiện bằng các dự án riêng lẻ hoặc nguồn lực thường xuyên. Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ tạo cơ chế huy động, phân bổ nguồn lực thống nhất từ trung ương đến địa phương, triển khai đồng bộ các giải pháp về chính sách, truyền thông, dịch vụ và đầu tư.

- Chương trình mục tiêu lần này không còn tiếp cận công tác dân số và chăm sóc sức khỏe như những lĩnh vực riêng rẽ mà đặt con người ở vị trí trung tâm, hướng tới chăm sóc sức khỏe trong suốt vòng đời. Theo ông, sự thay đổi này có ý nghĩa như thế nào?

- Đây là bước chuyển rất quan trọng trong tư duy hoạch định chính sách. Nếu trước đây công tác dân số chủ yếu tập trung vào kế hoạch hóa gia đình thì nay đã chuyển sang cách tiếp cận “dân số và phát triển”, lấy con người làm trung tâm và coi đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển bền vững.

Theo đó, chính sách hướng tới khuyến khích, hỗ trợ nam, nữ thanh niên kết hôn, sinh con; trang bị kiến thức, kỹ năng chăm sóc sức khỏe sinh sản, dự phòng vô sinh ngay từ tuổi vị thành niên; đồng thời, chăm sóc và nâng cao chất lượng dân số trong suốt vòng đời.

Việc đầu tư bắt đầu từ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn; chăm sóc sức khỏe bà mẹ và thai nhi; sàng lọc trước sinh, sơ sinh để trẻ có khởi đầu tốt nhất. Tiếp đó là chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên, tạo điều kiện để người dân phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần, đồng thời bảo đảm các điều kiện chăm sóc, phát huy vai trò của người cao tuổi.

Cách tiếp cận này cho phép chúng ta đầu tư từ sớm, từ xa và xuyên suốt vòng đời, góp phần nâng cao chất lượng dân số, thích ứng với những thay đổi về cơ cấu dân số và giảm gánh nặng cho hệ thống y tế, an sinh xã hội trong tương lai.

- Từ tư duy chăm sóc sức khỏe theo vòng đời, Chương trình cũng lần đầu tiên đưa tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân thành một chỉ tiêu quốc gia. Ông đánh giá thế nào về điều này?

- Khám sức khỏe trước khi kết hôn không chỉ giúp hai cá nhân kiểm tra tình trạng sức khỏe mà còn phát hiện, phòng ngừa và hướng dẫn điều trị các bệnh lý có nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình mang thai, sinh nở và nuôi dạy con, đồng thời giảm nguy cơ trẻ mắc bệnh, tật bẩm sinh.

Việc đưa nội dung này trở thành một chỉ tiêu quốc gia mang ý nghĩa rất lớn về dự phòng trong nâng cao chất lượng dân số. Phát hiện sớm bệnh truyền nhiễm, bệnh di truyền và các vấn đề sức khỏe sinh sản sẽ giúp các cặp đôi có sự chuẩn bị tốt hơn, góp phần xây dựng gia đình khỏe mạnh.

Ở góc độ rộng hơn, những đứa trẻ được sinh ra khỏe mạnh, phát triển tốt về thể chất và tinh thần sẽ là nền tảng hình thành nguồn nhân lực chất lượng trong tương lai. Đây cũng là sự cụ thể hóa Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 và cách tiếp cận “dân số và phát triển”, lấy nâng cao chất lượng dân số làm mục tiêu xuyên suốt.

Đưa chính sách vào cuộc sống

- Những mục tiêu về nâng cao chất lượng dân số chỉ thực sự đạt được khi triển khai đồng bộ, hiệu quả. Luật Dân số vừa có hiệu lực (từ 1-7-2026) cùng Chương trình mục tiêu quốc gia được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng như thế nào để người dân được chăm sóc sức khỏe tốt hơn?

- Luật Dân số tạo hành lang pháp lý thống nhất nhằm giải quyết những thách thức về mức sinh thấp, già hóa dân số, mất cân bằng giới tính khi sinh và nâng cao chất lượng dân số. Luật xác lập khuôn khổ chính sách, còn Chương trình mục tiêu quốc gia bảo đảm nguồn lực, cơ chế và các giải pháp để đưa chính sách vào cuộc sống, tạo điều kiện triển khai đồng bộ các nhiệm vụ dân số trên phạm vi cả nước.

Nếu triển khai hiệu quả, Chương trình sẽ mang lại những lợi ích rất lớn, trước hết đối với người dân. Người dân được quản lý, chăm sóc sức khỏe ban đầu ngay tại cơ sở, phòng bệnh từ sớm, từ xa, được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và dân số trong suốt vòng đời.

Đồng thời, việc hoàn thành mục tiêu gia tăng tỷ lệ sinh, duy trì mức sinh thay thế, phấn đấu đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, chủ động thích ứng với già hóa dân số, tăng cường chăm sóc các nhóm dễ bị tổn thương... góp phần bảo đảm nguồn nhân lực, nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của người dân, xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh. Ở tầm quốc gia, đây là khoản đầu tư mang lại lợi ích lâu dài cho phát triển.

- Trước thực tế Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh, ông kỳ vọng Chương trình sẽ tạo ra những thay đổi như thế nào trong chăm sóc người cao tuổi?

- Năm 2024, người cao tuổi chiếm khoảng 14% dân số và dự báo sẽ tăng lên 16,66% vào năm 2029, khoảng 20,2% vào năm 2039. Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Tuổi thọ tăng là một trong những thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội và chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, già hóa dân số cũng đặt ra yêu cầu đổi mới hệ thống an sinh xã hội, lao động, việc làm và đặc biệt là hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Điểm quan trọng của Chương trình là không chỉ tập trung điều trị bệnh mà hướng tới chăm sóc toàn diện người cao tuổi, từ chăm sóc sức khỏe ban đầu, quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng đến chăm sóc dài hạn tại gia đình và cộng đồng. Điều này sẽ giúp người cao tuổi được theo dõi sức khỏe thường xuyên hơn, được chăm sóc ngay tại cộng đồng khi có nhu cầu, kéo dài số năm sống khỏe mạnh và giảm gánh nặng cho mỗi gia đình.

Ở góc độ rộng hơn, đầu tư cho chăm sóc người cao tuổi cũng chính là để thích ứng với già hóa dân số. Khi người cao tuổi được chăm sóc tốt hơn, sống khỏe mạnh và độc lập lâu hơn, chúng ta không chỉ giảm áp lực lên hệ thống y tế và an sinh xã hội mà còn phát huy được kinh nghiệm, trí tuệ và vai trò của người cao tuổi trong gia đình cũng như cộng đồng.

- Hà Nội là đô thị đặc biệt với quy mô dân số lớn. Theo ông, Hà Nội cần tận dụng chính sách trong Luật Thủ đô và Luật Dân số như thế nào để xây dựng chính sách dân số phù hợp với đặc thù?

- Hà Nội là đô thị đặc biệt với những đặc điểm dân số rất đặc thù: Tình trạng mức sinh thấp, nhất là tại khu vực nội thành, trong khi quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh và mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn là một thách thức... Trong bối cảnh đó, Hà Nội không chỉ cần thực hiện các giải pháp nhằm đạt và duy trì mức sinh thay thế mà còn phải chú trọng nâng cao chất lượng dân số thông qua mở rộng tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân; sàng lọc trước sinh, sơ sinh; nâng cao thể lực, tầm vóc và chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời, tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, chủ động thích ứng với già hóa dân số.

Luật Thủ đô đã trao cho Hà Nội cơ chế đặc thù để chủ động ban hành, thí điểm các chính sách mới trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội. Đây là cơ sở để thành phố phát triển các chính sách hỗ trợ khám, chữa bệnh, khám sức khỏe định kỳ; đẩy mạnh y tế từ xa, ứng dụng công nghệ số; mở rộng các chính sách an sinh xã hội và hỗ trợ các nhóm yếu thế. Theo tôi, Hà Nội cần tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm: Khuyến khích sinh con nhằm đạt và duy trì mức sinh thay thế, nhất là tại khu vực nội đô; phát triển hệ thống chăm sóc người cao tuổi tại gia đình và cộng đồng; đồng thời, nâng cao chất lượng dân số thông qua tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh, sơ sinh và lồng ghép các yếu tố dân số vào quy hoạch, phát triển đô thị.

Với cơ chế đặc thù đã được trao, Hà Nội có cơ hội biến những thách thức dân số thành động lực đổi mới, trở thành địa phương tiên phong về chính sách dân số đô thị, góp phần định hình những mô hình phát triển bền vững cho cả nước.

- Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi!