Kinh tế

Hà Nội - Tầm quan trọng của kinh tế tập thể trong tăng trưởng hai con số

Nhóm Phóng viên 07/08/2026 19:09

Tối 7-8, từ 19h đến 20h, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện chương trình “Hà Nội chuyển động” với chủ đề “Hà Nội - Tầm quan trọng của kinh tế tập thể trong tăng trưởng hai con số”.

Trong hành trình hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, Hà Nội đang tìm kiếm và khơi thông những động lực tăng trưởng mới. Bên cạnh khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể - khu vực từng được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ an sinh - đang đứng trước cơ hội khẳng định vai trò là một lực lượng sản xuất quan trọng của nền kinh tế.

Không chỉ tạo việc làm, nâng cao thu nhập hay góp phần xây dựng nông thôn mới, kinh tế tập thể ngày nay đang từng bước tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị, chuyển đổi số, kinh tế xanh và phát triển bền vững. Đây cũng là những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển của Thủ đô trong giai đoạn mới.

Là địa phương có số lượng hợp tác xã thuộc nhóm lớn nhất cả nước, Hà Nội đang sở hữu một nguồn lực đáng kể để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng.

Điều quan trọng hơn, đây không chỉ là câu chuyện của riêng các hợp tác xã, mà còn là câu chuyện về cách Hà Nội khai thác hiệu quả các nguồn lực trong xã hội; hình thành những chuỗi giá trị bền vững; đồng thời, biến những tiềm năng còn phân tán trở thành sức mạnh cho tăng trưởng.

haikhachmoihncd070826.jpg
Hai khách mời tham gia trao đổi tại chương trình. Ảnh: Văn Tuyến

Từ thực tế đó, đặt ra nhiều vấn đề cần được trao đổi: Những điểm nghẽn nào cần được tháo gỡ để hợp tác xã thực sự vận hành theo cơ chế thị trường? Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới tư duy quản trị sẽ mở ra những cơ hội như thế nào cho khu vực kinh tế tập thể? Và quan trọng hơn, kinh tế tập thể sẽ đóng góp ra sao vào mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Hà Nội đang hướng tới?

Đây cũng là những nội dung được trao đổi trong chương trình “Hà Nội chuyển động” với chủ đề “Hà Nội - Tầm quan trọng của kinh tế tập thể trong tăng trưởng hai con số”.

Tham gia chương trình tại Trường quay S1, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội có Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, Thành viên Hội đồng Tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất kinh doanh Gốm Tân Thịnh.

Kinh tế tập thể Hà Nội đang chuyển mình theo hướng hiện đại

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, Thành viên Hội đồng Tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng, cùng với quá trình đổi mới của Thủ đô, dưới sự lãnh đạo quyết liệt của thành phố và sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan chức năng, khu vực kinh tế tập thể Hà Nội đã có những chuyển động rất tích cực cả về số lượng, chất lượng, tư duy phát triển cũng như năng lực quản trị.

z8127431430052_b18f926d34330962a77031ac56f8f872.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, Thành viên Hội đồng Tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trao đổi tại chương trình. Ảnh: Văn Tuyến

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho rằng, điểm nổi bật là khu vực kinh tế tập thể đang từng bước chuyển dịch từ mô hình hợp tác xã truyền thống sang mô hình hợp tác xã kiểu mới. Thay vì chỉ hỗ trợ nội bộ hoặc sản xuất quy mô nhỏ lẻ, các hợp tác xã đã chuyển sang mô hình sản xuất, kinh doanh hiện đại theo chuỗi; liên kết các hộ gia đình thành chuỗi cung ứng, đồng thời liên kết với doanh nghiệp, ngân hàng, các nhà khoa học và các viện, trường. Qua đó, hình thành chuỗi giá trị hướng tới thị trường, công nghệ, chuyển đổi xanh, lấy đổi mới sáng tạo làm động lực phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao và ngày càng khẳng định vai trò trong đời sống kinh tế - xã hội.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, những chuyển biến đó được phản ánh rõ qua kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm của Liên minh Hợp tác xã Hà Nội. Chỉ trong nửa đầu năm, thành phố có gần 100 hợp tác xã thành lập mới, nâng tổng số hợp tác xã và quỹ tín dụng đang hoạt động lên khoảng 2.800 đơn vị. Khu vực này hiện thu hút khoảng 618.000 thành viên, tạo việc làm cho 63.500 lao động, với tổng tài sản gần 5.000 tỷ đồng.

Ông Phong cũng cho biết, đã có hàng trăm hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao; hơn 134 hợp tác xã phát triển gần 450 sản phẩm OCOP. Hà Nội hiện có 22 liên hiệp hợp tác xã với 120 đơn vị thành viên; trong đó, 84 hợp tác xã xây dựng chuỗi liên kết với doanh nghiệp và hơn 70 hợp tác xã xây dựng các chuỗi cung ứng nông sản.

Những kết quả này đã tạo nên hình ảnh mới của khu vực kinh tế tập thể năng động, chủ động và gắn kết chặt chẽ với thị trường. Ngay cả các hợp tác xã làng nghề cũng mạnh dạn đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm OCOP, gắn với du lịch trải nghiệm và xuất khẩu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm.

Đánh giá về năng lực của khu vực kinh tế tập thể, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho rằng, khả năng thích ứng với cơ chế thị trường đã có sự cải thiện rõ rệt, cả trong tư duy của đội ngũ lãnh đạo cũng như cách thức các hợp tác xã tổ chức sản xuất, cung ứng sản phẩm theo nhu cầu thị trường.

Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, khu vực kinh tế tập thể vẫn còn không ít khó khăn liên quan đến quy mô hoạt động, năng lực cạnh tranh, khả năng tiếp cận nguồn vốn, công nghệ, mở rộng thị trường và đặc biệt là thu hút nguồn nhân lực trẻ, có trình độ cao.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong khẳng định, nhìn tổng thể, sự phát triển của kinh tế tập thể Hà Nội là tín hiệu tích cực, cho thấy khu vực này đang từng bước chuyển mình và ngày càng nâng cao khả năng đóng góp vào mục tiêu xây dựng Thủ đô phát triển nhanh, bền vững theo tinh thần Nghị quyết số 15 của Bộ Chính trị cũng như các chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội.

Hợp tác xã góp phần gìn giữ di sản và phát triển làng nghề

1786104610445_8364476855174505108_g1711323884443691583_3563f8b31efb53639bb44a072344743b.jpg
Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất kinh doanh Gốm Tân Thịnh. Ảnh: Văn Tuyến

Theo Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân, mô hình hợp tác xã không chỉ tạo động lực phát triển kinh tế tập thể mà còn góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản nghề gốm Bát Tràng trong bối cảnh đẩy mạnh thương mại và công nghiệp văn hóa.

Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân cho biết, ông lựa chọn mô hình hợp tác xã vì đây là hình thức tổ chức mang tính nhân văn, gắn bó chặt chẽ với cộng đồng làng nghề và phù hợp với đặc thù của nghề gốm Bát Tràng - di sản đã được Nhà nước công nhận. Theo ông Trần Đức Tân, sức sống của làng nghề hơn 700 năm qua được tạo nên từ 5 yếu tố cốt lõi gồm: Làng, nghề, con người, thông tin và dịch vụ, luôn gắn kết để thúc đẩy sự phát triển.

Ông Trần Đức Tân cho biết, nghệ nhân là lực lượng tạo ra sản phẩm và góp phần gìn giữ di sản, trong khi thông tin và dịch vụ, đặc biệt là thương mại điện tử, giúp quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường. Việc thành lập hợp tác xã vì vậy không chỉ phù hợp với đặc điểm của làng nghề mà còn góp phần kết nối bảo tồn di sản với phát triển thương mại. Hợp tác xã vừa là mô hình kinh tế tập thể, vừa đóng góp cho phát triển văn hóa và thương mại, tạo nền tảng để làng nghề tiếp tục phát triển bền vững.

sanpham-gom-bat-trang.jpg
Những sản phẩm gốm sứ Bát Tràng cuốn hút du khách. Ảnh: Huy Khôi

Nhiều động lực thúc đẩy hợp tác xã chuyển đổi

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho biết, sự phát triển của khu vực kinh tế tập thể thời gian qua được tạo nên từ nhiều yếu tố, trong đó có sự đổi mới về thể chế, thị trường, khoa học công nghệ và nỗ lực chuyển mình của các hợp tác xã.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, Luật Hợp tác xã và các chính sách mới đã khuyến khích đa dạng hóa mô hình, chuyển mạnh từ mục tiêu an sinh, hỗ trợ nội bộ sang tổ chức sản xuất theo hướng thị trường, coi hợp tác xã là một mô hình hoạt động như doanh nghiệp nhưng vẫn giữ bản chất liên kết tự nguyện. Cùng với đó, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện để hợp tác xã đổi mới, mở rộng sản xuất.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho rằng, áp lực từ thị trường, yêu cầu ngày càng cao của khách hàng cùng sự phát triển của thương mại điện tử và chuyển đổi số đã thúc đẩy các hợp tác xã đổi mới mẫu mã, ứng dụng công nghệ, tăng cường liên kết chuỗi và mở rộng tiêu thụ sản phẩm. Dù còn nhiều việc phải làm, khu vực kinh tế tập thể đang đi đúng hướng và sẽ tiếp tục nâng cao vị thế, đóng góp cho sự phát triển của Thủ đô và cả nước.

Chuyển đổi số giúp làng nghề nâng chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường

Từ thực tiễn hoạt động tại hợp tác xã của mình, ông Trần Đức Tân cho rằng, ứng dụng công nghệ là một yêu cầu tất yếu trong hoạt động kinh tế, thương mại, từ quản trị đến sản xuất. Đối với hợp tác xã, ứng dụng công nghệ số giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới phương thức quản lý, đồng thời giảm sức lao động.

tan.jpg
Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân trao đổi tại chương trình. Ảnh: Văn Tuyến

Đặc thù của nghề thủ công là phần lớn giá trị sản phẩm được tạo nên từ khối óc và đôi bàn tay của người thợ. Tuy nhiên, khi đưa công nghệ vào sản xuất, chúng ta có thể giảm sức lao động, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây là xu hướng tất yếu.

“Trong quá trình chuyển đổi số, mô hình của chúng tôi đã xây dựng được một đội ngũ trẻ kế cận, có khả năng tiếp cận công nghệ để tham gia quản lý sản xuất, đưa sản phẩm lên các nền tảng số, từ đó mở rộng khả năng cung ứng và phát triển thị trường”, ông Trần Đức Tân chia sẻ.

Thông tin rõ hơn, ông Trần Đức Tân cho biết, một thay đổi rất rõ trong nghề gốm hiện nay là hướng tới sản xuất xanh và ứng dụng công nghệ ngày càng sâu hơn. Chẳng hạn, việc vận hành lò gốm đã có thể được kiểm soát qua điện thoại. Người thợ không còn nhất thiết phải thường xuyên ngồi bên cửa lò như trước mà có thể theo dõi, điều khiển quá trình nung bằng công nghệ. Đây là một thay đổi rất lớn đối với nghề gốm.

Ở làng gốm Bát Tràng, ngay cả thế hệ nghệ nhân từng trải qua những năm tháng lao động rất vất vả cũng đang từng bước tiếp cận công nghệ số để phục vụ quản trị, sản xuất và kinh doanh. Có thể thấy, chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ đang phát triển khá mạnh trong làng nghề, trong đó có các hợp tác xã. Đây là một hướng đi quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và thích ứng với yêu cầu phát triển mới.

Điểm nghẽn vẫn tập trung ở vốn, đất đai và nhân lực chất lượng cao

Chia sẻ tại chương trình, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho rằng, bên cạnh những điều kiện hết sức thuận lợi, xét một cách khách quan, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, bao gồm cộng đồng doanh nghiệp và hợp tác xã, đều đang gặp những khó khăn nhất định trong tiếp cận 4 nguồn lực quan trọng là vốn, đất đai, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trong bối cảnh đó, điểm sáng đối với hợp tác xã hiện nay là khả năng tiếp cận và ứng dụng khoa học - công nghệ đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều hợp tác xã, xã viên đã chủ động khai thác internet, sử dụng phần mềm để tìm kiếm thông tin, thiết kế và thử nghiệm sản phẩm. Song, việc đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất vẫn gặp trở ngại do nguồn lực tài chính hạn chế.

1786105402019_4239903132942462180_g6448140972480439375_087ac3fac25d4f5fc39f73bd1b35ed6b.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Văn Tuyến

Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là vốn. Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong phân tích, phần lớn hợp tác xã hoạt động dựa trên vốn góp của thành viên, nguồn vốn chung không nhiều, thiếu tài sản để thế chấp vay ngân hàng. Bên cạnh đó, năng lực xây dựng dự án, lập phương án kinh doanh và tạo niềm tin để tiếp cận tín dụng cũng còn hạn chế.

Đối với đất đai, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong nhận định, ngoài lĩnh vực nông nghiệp, phần lớn hợp tác xã không có quỹ đất sản xuất ổn định mà chủ yếu phải thuê với diện tích hạn chế.

Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, đặc biệt tại Hà Nội, càng khiến việc tiếp cận đất đai trở nên khó khăn. Trong khi doanh nghiệp có các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thì nhiều hợp tác xã lại thiếu mặt bằng sản xuất, kho bãi và hạ tầng logistics.

Về nguồn nhân lực, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong nhận định, đây là yếu tố "vừa là lợi thế, vừa là yếu". Theo đó, hợp tác xã có lợi thế huy động được nhiều nhóm lao động khác nhau, từ người cao tuổi đến lao động trẻ. Thế nhưng lực lượng thanh niên có trình độ chuyên môn cao vẫn còn ít do phần lớn lựa chọn làm việc tại doanh nghiệp hoặc khu vực Nhà nước.

"Dù vậy, cùng với sự đổi mới của mô hình sản xuất, kinh doanh và sự thay đổi trong tư duy, hợp tác xã sẽ có thêm cơ hội thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua các mô hình hợp tác, liên kết với đội ngũ chuyên gia và lao động có trình độ, thay vì chỉ tuyển dụng theo hình thức toàn thời gian", Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong bày tỏ.

Cần chính sách “đúng và trúng”

Theo Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân, để kinh tế tập thể thực sự trở thành động lực phát triển các làng nghề, vẫn còn nhiều “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ bằng những chính sách sát thực tiễn.

Ông Trần Đức Tân cho rằng, thực tế hợp tác xã là lực lượng đang đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn và bảo tồn các giá trị truyền thống. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo cú hích lớn cho kinh tế tập thể. Nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP 5 sao hiện nay có sự tham gia của các hợp tác xã, góp phần xây dựng thương hiệu địa phương và từng bước đưa sản phẩm Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.

“Chính các hợp tác xã đang góp phần tạo nên những sản phẩm đặc trưng của mỗi vùng miền. Đó không chỉ là sản phẩm kinh tế mà còn là bản sắc văn hóa, là nhận diện của làng nghề và của quốc gia”, ông Trần Đức Tân chia sẻ.

Tuy nhiên, đối với các làng nghề truyền thống như Bát Tràng, rào cản lớn nhất hiện nay lại nằm ở mặt bằng sản xuất. Theo ông Trần Đức Tân, nghề gốm đòi hỏi không gian sản xuất lớn, trong khi quỹ đất dành cho các cơ sở sản xuất ngày càng hạn hẹp.

1786105432776_7603596792971050857_g733569543109736386_23502d380331c1c4599f8fa604104b87.jpg
Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất kinh doanh Gốm Tân Thịnh trao đổi tại chương trình. Ảnh: Văn Tuyến

Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân dẫn chứng, tại nhiều quốc gia như Nhật Bản hay Trung Quốc, những nhà xưởng nhiều tầng được xây dựng để tối ưu diện tích. Chỉ trên diện tích khoảng 300m², các cơ sở có thể xây dựng từ 15 đến 20 tầng, sử dụng thang máy để vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm giữa các tầng, giúp tiết kiệm đất và nâng cao hiệu quả sản xuất.

“Đó là mô hình mà những người làm gốm chúng tôi rất mong muốn. Nhưng để thực hiện được thì trước hết phải có mặt bằng ổn định và có cơ chế phù hợp”, ông Trần Đức Tân nói.

Bên cạnh mong muốn về ổn định mặt bằng sản xuất, Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân cho rằng, các chính sách hỗ trợ cần đi đúng trọng tâm, đúng nhu cầu của hợp tác xã. Đồng thời, sự hỗ trợ về khoa học, công nghệ có ý nghĩa đặc biệt đối với các làng nghề. Nếu trước đây, việc chuyển đổi từ lò than sang lò gas là khát vọng của nhiều cơ sở sản xuất nhưng không phải ai cũng đủ điều kiện đầu tư, hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, các hợp tác xã rất cần được hỗ trợ tiếp cận những công nghệ mới, thiết bị hiện đại và các giải pháp chuyển đổi số.

Trong nghề gốm, công nghệ và kỹ thuật men là tài sản rất quý, nhiều khi có tiền cũng chưa chắc tiếp cận được. Vì vậy, nếu Nhà nước có những chương trình hỗ trợ trực tiếp về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng mô hình mẫu để các hợp tác xã học tập thì sẽ tạo động lực rất lớn cho phát triển.

Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân

Một khó khăn khác được người đứng đầu Hợp tác xã Gốm Tân Thịnh đề cập là khả năng tiếp cận nguồn vốn. Bởi phần lớn các hợp tác xã đang thuê đất nên không có tài sản để thế chấp vay vốn, trong khi đó, đầu tư cho sản xuất gốm đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn. Chỉ riêng việc xây dựng một lò gas đã cần khoảng 2 tỷ đồng; một lò điện hiện đại cũng tiêu tốn hàng trăm triệu đồng, chưa kể hệ thống thiết bị, phụ kiện và hạ tầng đi kèm.

“Nếu không có nguồn vốn đủ mạnh thì rất khó đầu tư đổi mới công nghệ. Mà không đổi mới thì sẽ khó nâng cao chất lượng sản phẩm, khó cạnh tranh trên thị trường”, ông Tân phân tích.

Từ thực tiễn hoạt động của đơn vị, Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân mong muốn các chính sách phát triển kinh tế tập thể trong thời gian tới sẽ hướng nhiều hơn đến nhu cầu thực tế của các hợp tác xã, từ đất đai, vốn vay đến hỗ trợ công nghệ và chuyển đổi số.

Đổi mới để nâng tầm hợp tác xã

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, những hợp tác xã thành công đều là những đơn vị biết kết hợp hài hòa giữa nội lực đổi mới, kinh nghiệm truyền thống với tư duy kinh doanh hiện đại, ứng dụng công nghệ và định hướng thị trường, đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn quản lý của Nhà nước. Đây là những yếu tố tổng hợp, vừa là định hướng, vừa là động lực và cũng là sự chuẩn bị cần thiết để hợp tác xã phát triển trong giai đoạn mới.

z8127473933911_d38b2bbce92c0d7033f6a2da0e246856.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, thành viên Hội đồng Tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trao đổi tại chương trình. Ảnh: Văn Tuyến

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho rằng, để không bị bỏ lại phía sau và đáp ứng yêu cầu phát triển xanh, chuyển đổi số, phát triển bền vững của Hà Nội, trước hết cần có sự thay đổi trong tư duy của lãnh đạo và các xã viên hợp tác xã. Theo ông Nguyễn Minh Phong, hợp tác xã không thể chỉ được nhìn nhận như một mô hình mang tính hình thức hay tạm thời, mà phải thực sự trở thành công cụ kinh doanh, là sinh kế của các thành viên. Tư duy quản trị cũng cần chuyển từ dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu, nghiên cứu thị trường và thể chế pháp luật để hoạch định hoạt động như một doanh nghiệp. Đây là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu giúp hợp tác xã thích ứng với cơ chế thị trường.

Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng chuẩn bị nguồn nhân lực. Không chỉ đội ngũ lãnh đạo và xã viên, các hợp tác xã cần quan tâm xây dựng nguồn nhân lực cho những bộ phận then chốt như thiết kế sản phẩm, phát triển thị trường và công nghệ. Trong bối cảnh hợp tác xã phải tham gia thương mại điện tử, liên kết với các nền tảng số, nếu không có đội ngũ am hiểu công nghệ thì sẽ khó khai thác hiệu quả, thậm chí, phải phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài với chi phí cao.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, các hợp tác xã cần chủ động đưa sản phẩm lên các nền tảng số, ứng dụng khoa học - công nghệ phù hợp với thực tiễn hoạt động của mình, như: Số hóa quản lý thành viên, quản trị xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, quản trị thương mại điện tử... Việc ứng dụng công nghệ cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của hợp tác xã, thay vì chạy theo phong trào hoặc đứng ngoài quá trình chuyển đổi số.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cũng cho rằng, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng, thẩm mỹ, tính tiện ích, chế độ bảo hành và chăm sóc sau bán hàng là yêu cầu rất quan trọng. Các hợp tác xã cần hoạt động theo tư duy doanh nghiệp để người tiêu dùng khi mua sản phẩm của hợp tác xã vẫn được hưởng những dịch vụ khuyến mại, chăm sóc khách hàng tương tự doanh nghiệp. Đây cũng là điều kiện để mở rộng tiêu thụ sản phẩm, kể cả thông qua các nền tảng thương mại điện tử ra thị trường quốc tế.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho rằng, cùng với việc thành phố xây dựng hệ thống dữ liệu lớn (Big Data), các hợp tác xã cũng cần xây dựng cơ sở dữ liệu của riêng mình, bao gồm: Dữ liệu khách hàng, đối tác, nguyên liệu và các dữ liệu liên quan để xử lý bằng trí tuệ nhân tạo (AI) và các công cụ số phù hợp, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị và khả năng cạnh tranh.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong nhấn mạnh, việc đầu tư xây dựng thương hiệu, mẫu mã, bao bì, đẩy mạnh quảng bá và chăm sóc khách hàng là yêu cầu không thể thiếu. Theo ông Nguyễn Minh Phong, tất cả yếu tố này sẽ giúp hợp tác xã vừa đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường, vừa chủ động tiết giảm chi phí, tham gia sâu vào chuỗi liên kết. Ngược lại, nếu vẫn hoạt động đơn lẻ, khép kín từ đầu đến cuối, hợp tác xã sẽ khó tạo được sự bứt phá trong quá trình đổi mới, hội nhập và nâng cao vị thế trên thị trường.

z8127474254550_bb344e84cc3280fc8fa9aaedaf09472a.jpg
Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất kinh doanh Gốm Tân Thịnh.
Ảnh: Văn Tuyến.

Về nội dung này, Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân chia sẻ, giá trị lớn nhất của làng nghề không chỉ nằm ở việc bán các sản phẩm, mà còn là bán những giá trị văn hóa. Vì vậy, thương mại văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của các làng nghề.

Ông Trần Đức Tân cho biết, mong muốn của những người làm nghề là xây dựng một làng nghề xanh, trở thành một "bảo tàng sống", đồng thời là trung tâm phát triển thương mại, nơi không chỉ giới thiệu các sản phẩm gốm mà còn là "đại sứ" quảng bá, tôn vinh những giá trị văn hóa mà cha ông để lại.

Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân chia sẻ, hợp tác xã luôn tâm niệm phương châm: "Giữ lửa nghề và giữ tương lai, biết ơn quá khứ và cảm ơn hiện tại". Theo ông Trần Đức Tân, giữ gìn, bảo tồn những giá trị truyền thống là cách để xây dựng tương lai và trân trọng hiện tại. Cộng đồng những người làm nghề ở Bát Tràng vẫn đang ngày đêm gìn giữ, phát huy các giá trị ấy và chứng kiến sự phát triển ngày càng khởi sắc của làng nghề.

Theo ông Trần Đức Tân, Bát Tràng hiện cũng đang nhận được sự quan tâm của thành phố trong định hướng phát triển làng nghề gắn với du lịch. Sau khi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, làng nghề tiếp tục có thêm nhiều điều kiện để phát triển. Hiện, Bát Tràng có khoảng 80.000 lao động, gần 10.000 hộ sản xuất; trong đó khoảng 60% hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất gốm, 40% còn lại tham gia cung ứng nguyên vật liệu, thương mại và các hoạt động dịch vụ phục vụ nghề gốm. Theo ông Trần Đức Tân, làng nghề luôn trong trạng thái chuyển động mạnh mẽ và không ngừng phát triển.

t7-bat-trang-moi.jpg
Du khách tham quan, trải nghiệm không gian “Về làng” trong khuôn khổ mô hình công nghiệp văn hóa phức hợp tại Bát Tràng. Ảnh Hải Giang

Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân bày tỏ mong muốn Bát Tràng sẽ tiếp tục có thêm những công trình, sản phẩm và không gian xứng tầm để góp phần làm đẹp cho Thủ đô. Bát Tràng không chỉ là nơi sản xuất đồ gốm hay các sản phẩm văn hóa mà còn phải trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn, đủ sức đón khách quốc tế và các đoàn ngoại giao. Khi đến Bát Tràng, du khách cần cảm nhận được các giá trị mới, những đổi thay xứng đáng với vị thế của một làng nghề tiêu biểu của Thủ đô.

Bên cạnh đó, ông cũng mong các cấp, các ngành tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện để những người làm nghề có thêm động lực gìn giữ và tôn vinh vẻ đẹp của làng nghề. "Chúng tôi sẽ tiếp tục ngày đêm sáng tạo, làm ra những sản phẩm gốm chất lượng để phục vụ thị trường trong nước và quốc tế, qua đó góp phần phát triển nghề gốm truyền thống cũng như đóng góp vào sự phát triển của Thủ đô", Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân nhấn mạnh.

Kinh tế tập thể cần được đặt ở vị trí trung tâm của phát triển bao trùm

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, Nghị quyết số 68-NQ/TW mở ra định hướng mới khi xác định khu vực tư nhân và kinh tế tập thể là động lực quan trọng của nền kinh tế, tạo nền tảng cho mục tiêu phát triển bao trùm.

1786106144734_8364476855174505108_g1711323884443691583_8ebe172c15c29f06b0cc648e761ffb78.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, thành viên Hội đồng Tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trao đổi tại chương trình. Ảnh: Văn Tuyến

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho rằng, một trong những thành tựu lớn nhất của công cuộc đổi mới là khẳng định vai trò của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Thực tiễn cho thấy, nền kinh tế càng phát triển càng cần sự đa dạng về các thành phần kinh tế.

Điểm mới và quan trọng của Nghị quyết số 68-NQ/TW là xác định khu vực tư nhân và kinh tế tập thể trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh, tạo việc làm và bảo đảm an sinh xã hội.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần xây dựng hệ sinh thái phát triển đồng bộ cho kinh tế nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể. Cùng với hệ thống các nghị quyết mang tính trụ cột đã được ban hành, điều quan trọng là tổ chức triển khai hiệu quả, tạo sức mạnh cộng hưởng giữa các thành phần kinh tế. Trong đó, khu vực tư nhân và kinh tế tập thể cần được đặt ở vị trí trung tâm, nền tảng cho mục tiêu phát triển bao trùm của đất nước.

mttq-bat-trang.jpg
Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội Bùi Huyền Mai thăm nơi sản xuất và trưng bày sản phẩm tại Hợp tác xã sản xuất kinh doanh Gốm sứ Tân Thịnh, xã Bát Tràng ngày 30-7. Ảnh: MTTQ

Chuyển đổi số mở cơ hội bứt phá cho hợp tác xã và làng nghề

Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân cho biết, với các hợp tác xã quy mô nhỏ, chuyển đổi số vừa là áp lực nhưng quan trọng hơn là cơ hội để phát triển. Việc ứng dụng công nghệ số hiện nay trở thành yêu cầu đối với mọi mô hình kinh tế. Thực tế cho thấy, từ hoạt động bán hàng trên mạng xã hội, thương mại điện tử đến livestream giới thiệu sản phẩm đều giúp các làng nghề tiếp cận khách hàng nhanh hơn.

Tại Bát Tràng, nhiều bạn trẻ đã kể câu chuyện làng nghề, quảng bá sản phẩm mới trên các nền tảng số, trong khi các nghệ nhân chia sẻ giá trị văn hóa và kinh nghiệm nghề truyền thống, góp phần lan tỏa thương hiệu gốm.

Ông Trần Đức Tân cũng đánh giá cao việc ứng dụng AI và các công cụ số trong thiết kế mẫu mã, xây dựng báo giá, quản lý dữ liệu và điều hành công việc, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý. Nếu không chủ động ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số, doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ tụt lại phía sau. Yếu tố quyết định vẫn là con người, tinh thần sẵn sàng tiếp cận cái mới để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.

Xây dựng hệ sinh thái để các thành phần kinh tế cùng phát triển

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, một trong những thành tựu lớn của công cuộc đổi mới là khẳng định vai trò của các thành phần kinh tế. Nền kinh tế càng phát triển thì càng cần sự đa dạng về các thành phần tham gia.

tsnmphong.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho rằng, khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể cần được đặt ở vị trí trung tâm. Ảnh: Văn Tuyến

Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã xác định khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh, tạo việc làm và bảo đảm an sinh xã hội.

Từ đó, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho rằng, cần xây dựng một hệ sinh thái phát triển đồng bộ giữa kinh tế Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể.

Điều quan trọng là triển khai hiệu quả các nghị quyết, chính sách để tạo sức mạnh cộng hưởng, giúp các thành phần kinh tế cùng phát triển, trong đó khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể cần được đặt ở vị trí trung tâm, nền tảng cho mục tiêu phát triển bao trùm của đất nước.

Chuyển đổi số là cơ hội để hợp tác xã bứt phá

Ở góc độ doanh nghiệp, Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân cho rằng, chuyển đổi số vừa đặt ra yêu cầu đổi mới, vừa mở ra nhiều cơ hội cho các hợp tác xã, kể cả những đơn vị có quy mô nhỏ. Theo ông Trần Đức Tân, công nghệ số và thương mại điện tử đang tạo điều kiện để các sản phẩm tiếp cận khách hàng nhanh hơn, mở rộng thị trường với chi phí thấp.

nghenhantranminhduc.jpg
Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân cho rằng chuyển đổi số vừa đặt ra yêu cầu đổi mới. Ảnh: Văn Tuyến

Lấy ví dụ thực tế từ làng gốm Bát Tràng, hoạt động livestream, quảng bá sản phẩm trên các nền tảng số đã trở nên phổ biến. Bên cạnh việc giới thiệu sản phẩm, nhiều nghệ nhân và người trẻ còn chia sẻ câu chuyện về nghề, văn hóa làng nghề, quá trình sáng tạo và các mẫu thiết kế mới, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm.

Ông Trần Đức Tân cũng cho biết, việc ứng dụng công nghệ số và AI đã giúp nâng cao hiệu quả quản lý, bán hàng và thiết kế sản phẩm. Từ khâu báo giá, gửi hình ảnh, mô tả sản phẩm đến hỗ trợ xây dựng ý tưởng thiết kế đều được thực hiện nhanh chóng nhờ các công cụ số.

"Nếu không chủ động ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, hợp tác xã sẽ bị tụt lại phía sau. Tuy nhiên, hiệu quả của quá trình này vẫn phụ thuộc vào sự chủ động của người quản lý, các thành viên hợp tác xã và khả năng tiếp cận, làm chủ công nghệ của mỗi đơn vị", Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân chia sẻ.

Nhân lực chất lượng cao tạo đột phá cho hợp tác xã

Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân cho rằng, càng hội nhập và đẩy mạnh chuyển đổi số thì càng cần những con người có năng lực, được đào tạo bài bản. Theo ông, những cán bộ trẻ tốt nghiệp các ngành mỹ thuật công nghiệp, quản trị kinh doanh hay được đào tạo về công nghệ đang phát huy hiệu quả rõ nét tại hợp tác xã.

“Trong hợp tác xã của chúng tôi, các bạn trẻ được đào tạo đúng chuyên môn nên tiếp cận rất nhanh với công nghệ số cũng như nhu cầu của khách hàng. Khi có đối tác cần hợp tác hay đặt hàng, các bạn xử lý rất nhanh, chuyên nghiệp. Tôi cho rằng năng lực của con người sẽ được phát huy tốt nhất khi được đào tạo đúng ngành nghề và làm đúng công việc của mình”, ông Trần Đức Tân chia sẻ.

Theo ông Tân, chính lực lượng lao động trẻ đang góp phần giúp hợp tác xã thích ứng với xu thế kinh doanh mới, từng bước chuyển đổi từ phương thức sản xuất truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại, gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

hncd.jpg
Các khách mời trao đổi tại chương trình. Ảnh: Văn Tuyến

Liên kết chuỗi giá trị để phát triển kinh tế tập thể

Bên cạnh câu chuyện về nguồn nhân lực, yêu cầu phát triển kinh tế tập thể hiện nay cũng không chỉ dừng ở mở rộng quy mô mà phải hướng tới phát triển theo chiều sâu, tạo giá trị gia tăng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho rằng, kinh tế tập thể không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn là một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường.

Theo ông Phong, muốn phát triển bền vững, khu vực kinh tế tập thể phải gắn chặt với nhu cầu của thị trường, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, tham gia sâu vào các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, ngân hàng cùng các thành phần kinh tế khác.

“Kinh tế tập thể cần hình thành những chuỗi liên kết tổng hợp, trong đó mỗi chủ thể phát huy lợi thế riêng, phân định rõ vai trò, trách nhiệm để cùng hướng tới mục tiêu tăng trưởng và phát triển chung. Đây cũng là yêu cầu quan trọng trong công tác quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tập thể trong thời gian tới”, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong nhấn mạnh.

chuyen-my.jpg
Làng nghề xã Chuyên Mỹ đẩy mạnh chuyển đổi số mở rộng thị trường tiêu thụ. Ảnh: Anh Đức

Đưa sản phẩm OCOP vươn ra thị trường quốc tế

Ở góc độ một hợp tác xã làng nghề, Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân cho biết, các hợp tác xã tạo việc làm cho người dân địa phương, đồng thời đang góp phần khẳng định thương hiệu làng nghề thông qua nhiều sản phẩm OCOP đạt tiêu chuẩn 5 sao.

Theo ông, mỗi sản phẩm OCOP không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn là dấu ấn văn hóa, là hình ảnh nhận diện của mỗi địa phương. Vì vậy, các hợp tác xã rất mong được tạo điều kiện tham gia nhiều hơn vào các chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ và triển lãm quốc tế.

“Sản phẩm gốm Bát Tràng đang nhận được sự quan tâm của nhiều khách hàng nước ngoài. Chúng tôi mong muốn các sản phẩm OCOP có thêm cơ hội tham gia các chương trình xúc tiến thương mại quốc tế để quảng bá thương hiệu, mở rộng thị trường xuất khẩu. Khi sản phẩm địa phương được biết đến nhiều hơn sẽ tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tập thể”, ông Trần Đức Tân bày tỏ.

Kinh tế tập thể - động lực tăng trưởng mới của Hà Nội

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Hà Nội cần phát huy đồng thời các động lực tăng trưởng, trong đó kinh tế tập thể cần chuyển mạnh từ tư duy “cùng tồn tại” sang liên kết để phát triển, gắn với thị trường, khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, để kinh tế tập thể thực sự trở thành một cực tăng trưởng mới của Hà Nội trong giai đoạn 2026-2030, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp.

Trước hết là đổi mới tư duy. Thay vì coi hợp tác xã là mô hình chỉ cùng tồn tại, cần chuyển sang tư duy cùng liên kết để phát triển; đồng thời đổi mới phương thức quản trị theo thị trường, quản trị theo số.

Cùng với đó là hoàn thiện chính sách theo hướng chuyên nghiệp, thiết thực, cập nhật và hướng tới cuộc sống. Một trong những yêu cầu quan trọng là tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về nhân lực, đất đai, vốn, qua đó, tạo điều kiện phát triển những lĩnh vực Hà Nội có sở trường và các cơ sở kinh tế tập thể có lợi thế.

Kinh tế tập thể cũng cần hướng mạnh tới thị trường, tuân thủ các yêu cầu về phát triển bền vững, phát triển bao trùm và tăng trưởng xanh.

Đặc biệt, cần tăng cường các chuỗi liên kết, bởi kinh tế tập thể không thể đứng một mình. Trong một nền kinh tế thành công cần có sự liên kết giữa các doanh nghiệp lớn, gồm: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân lớn, với mạng lưới doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và các hộ sản xuất.

Sự liên kết này sẽ tạo cộng hưởng trong huy động nguồn lực xã hội, tăng sức lan tỏa và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Cùng với đó, thông tin, tư vấn, tôn vinh và xử lý sai phạm cần được quan tâm, góp phần tạo đột phá cho phát triển kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân.

Lý giải yêu cầu phát huy đồng thời kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong cho rằng có hai lý do cơ bản.

Thứ nhất, các động lực tăng trưởng truyền thống đang có những giới hạn nhất định. Khai thác tài nguyên, thâm dụng vốn, thâm dụng lao động, sản xuất đơn giản, gia công đều có giới hạn, đặt ra những vấn đề về ô nhiễm môi trường và hiệu quả cạnh tranh.

Thứ hai là tiềm năng, lợi thế của khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể.

tsnguyenminhphong.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong trao đổi tại chương trình. Ảnh: Văn Tuyến

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể trong tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, đổi mới sáng tạo, xuất khẩu và bảo đảm an sinh xã hội.

Việc khai thác hiệu quả những tiềm năng này thông qua các thể chế phù hợp sẽ tạo thêm nguồn lực, cộng lực cho phát triển, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng và hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường trong thời gian tới.

Làng nghề cần tạo giá trị mới từ giá trị truyền thống

Từ thực tiễn hoạt động của làng nghề Bát Tràng, Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân cho rằng, trong bối cảnh hội nhập và hướng tới tăng trưởng hai con số, các làng nghề, cộng đồng kinh tế tập thể cần cùng nhau phát triển nghề, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Yếu tố quan trọng nhất vẫn là sản phẩm. Sản phẩm phải sạch, làng nghề phải thể hiện được các yếu tố thương mại, văn hóa và hồn cốt dân tộc.

Nghệ nhân ưu tú Trần Đức Tân mong muốn Nhà nước quan tâm sớm đến các dự án làng nghề, trong đó có việc kết hợp làng nghề Bát Tràng với du lịch làng nghề. Cùng với đó là đầu tư cơ sở hạ tầng, các trung tâm văn hóa, trung tâm thương mại và những nơi tôn vinh giá trị văn hóa, di sản của nghề, qua đó đưa làng nghề trở thành điểm đến.

lang-nghe-lua-van-phuc.jpg
Khách quốc tế tham quan, mua sắm tại làng lụa Vạn Phúc (phường Hà Đông). Ảnh: NM

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, nếu thực hiện tốt chuyển đổi, hiện đại hóa và thị trường hóa mô hình hợp tác xã, đẩy mạnh chuyển đổi số trên địa bàn, khu vực kinh tế tập thể sẽ góp phần quan trọng vào nỗ lực tăng trưởng hai con số của Hà Nội.

Đóng góp này được thể hiện qua việc tăng huy động vốn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, giá trị gia tăng; khai thác tiềm năng của các làng nghề, sản phẩm OCOP, công nghiệp văn hóa và du lịch.

Đáng chú ý, việc tạo ra những giá trị mới trên cơ sở khai thác giá trị truyền thống, kết hợp khoa học công nghệ và nắm bắt thị trường sẽ mở thêm những động lực tăng trưởng mới.

Đổi mới tư duy, đổi mới mô hình hoạt động, tăng cường liên kết và ứng dụng khoa học công nghệ là những yêu cầu quan trọng để kinh tế tập thể nâng cao năng lực cạnh tranh, khẳng định vị thế trong nền kinh tế thị trường và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của Hà Nội.

Qua đó, kinh tế tập thể không chỉ được nhìn nhận là khu vực cần hỗ trợ mà từng bước trở thành khu vực tạo ra tăng trưởng, đóng góp vào mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Thủ đô.