Chính trị

Bảo đảm cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô trong quản lý kiến trúc và quy hoạch

Đình Hiệp 06/08/2026 - 18:47

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phát huy cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô.

t.jpg
Các đại biểu Quốc hội Đoàn thành phố Hà Nội thảo luận tại Tổ chiều 6-8. Ảnh: Quang Vinh

Chiều 6-8, tiếp tục chương trình kỳ họp không thường lệ thứ nhất, các đại biểu Quốc hội đoàn thành phố Hà Nội thảo luận tại Tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng; dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.

Bảo tồn bản sắc văn hóa biển gắn với phát triển đô thị hiện đại

thu-dung.jpg
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (Đoàn thành phố Hà Nội) phát biểu thảo luận. Ảnh: Như Ý

Tham gia góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (Đoàn thành phố Hà Nội) đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời phát huy cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô năm 2026 trong quản lý kiến trúc, quy hoạch và bảo tồn các công trình có giá trị.

Về nguyên tắc áp dụng pháp luật, đại biểu đề nghị bổ sung quy định bảo đảm việc áp dụng các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô năm 2026 trong quản lý kiến trúc, thi tuyển phương án kiến trúc và quản lý công trình kiến trúc có giá trị. Theo đó, cần quy định rõ: "Trường hợp pháp luật có quy định khác thì thực hiện theo pháp luật về Luật Thủ đô".

Đối với quy định về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, đại biểu cho rằng khái niệm hiện nay đang gắn chủ yếu với cộng đồng dân cư trong một khu vực xác định, có thể làm thu hẹp phạm vi của bản sắc kiến trúc. Vì vậy, đại biểu kiến nghị mở rộng theo hướng bao gồm các đặc trưng kiến trúc của quốc gia, vùng văn hóa, dân tộc, địa phương và cộng đồng dân cư. Đồng thời, việc xác định bản sắc kiến trúc cần được thực hiện trên cơ sở khảo sát, lấy ý kiến cơ quan quản lý văn hóa, các chuyên gia, tổ chức nghề nghiệp và cộng đồng dân cư.

Liên quan đến công trình kiến trúc có giá trị, đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa danh mục kiểm kê di tích, danh mục công trình kiến trúc có giá trị và danh mục công trình cần tập trung nguồn lực để bảo vệ theo Luật Thủ đô năm 2026 nhằm bảo đảm liên thông dữ liệu, kế thừa kết quả đánh giá và tránh trùng lặp trong quản lý, nhất là đối với các công trình trên địa bàn Hà Nội.

Đại biểu cũng đề nghị bổ sung quy định riêng nhằm bảo lưu thẩm quyền đặc thù của Hà Nội theo Luật Thủ đô trong việc điều chỉnh quy chế quản lý kiến trúc. Cụ thể, về thẩm quyền rà soát, điều chỉnh quy chế quản lý kiến trúc, đại biểu cho rằng cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm đối với từng loại quy chế, tránh tình trạng UBND cấp tỉnh và UBND cấp xã cùng thực hiện một nhiệm vụ.

Theo đó, cơ quan đã ban hành hoặc được phân cấp ban hành quy chế phải chịu trách nhiệm tổ chức rà soát, điều chỉnh; UBND cấp tỉnh không nên quyết định toàn bộ nội dung điều chỉnh đối với những quy chế đã được phân cấp cho cấp xã ban hành.

Đối với quy định về thi tuyển phương án kiến trúc, đại biểu nhận định việc quy định cứng các công trình bắt buộc phải thi tuyển có thể chưa thống nhất với cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô và các nghị quyết của HĐND thành phố Hà Nội. Do đó, cần nghiên cứu phương án quy định theo hướng trường hợp pháp luật có quy định khác thì áp dụng theo Luật Thủ đô năm 2026.

“Đối với các dự án khẩn cấp hoặc dự án áp dụng cơ chế đầu tư đặc biệt không tổ chức thi tuyển, vẫn nên có cơ chế tuyển chọn hoặc lấy ý kiến Hội đồng tư vấn kiến trúc khi điều kiện thực tế cho phép”, đại biểu kiến nghị.

viet-anh.jpg
Đại biểu Trần Việt Anh (Đoàn thành phố Hà Nội) phát biểu thảo luận. Ảnh: Như Ý

Trong khi đó, đại biểu Trần Việt Anh (Đoàn thành phố Hà Nội) kiến nghị, dự thảo Luật cần được rà soát, bổ sung các quy định chuyên biệt đối với không gian ven biển và hải đảo. Trước hết, cần xây dựng khung quản lý không gian kiến trúc dải ven biển và hải đảo, trong đó quy định rõ hành lang bảo vệ bờ biển, khoảng lùi xây dựng, khống chế chiều cao, mật độ xây dựng và khoảng cách giữa các công trình nhằm bảo đảm tầm nhìn hướng biển cũng như quyền tiếp cận mặt nước, bờ biển của cộng đồng.

Theo đại biểu Trần Việt Anh, dự thảo Luật cần cụ thể hóa việc nhận diện và bảo tồn bản sắc kiến trúc vùng biển, bao gồm các làng chài truyền thống, nhà tránh bão, các công trình tín ngưỡng gắn với văn hóa biển như đền thờ Cá Ông, hải đăng và các di sản văn hóa đặc trưng khác.

Song song với đó, cần định hướng phát triển các đô thị biển hiện đại, các khu kinh tế ven biển, đô thị du lịch - nghỉ dưỡng theo mô hình đô thị xanh, thông minh, hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa biển Việt Nam.

Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Chương bày tỏ thống nhất với việc sửa đổi, bổ sung Điều 14 về Quy chế quản lý kiến trúc nhằm đơn giản hóa trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành quy chế và phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng nội dung sửa đổi của dự thảo vẫn còn một số điểm chưa rõ ràng, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện.

Để bảo đảm tính thống nhất và khả thi, đại biểu đề nghị xây dựng quy chế quản lý kiến trúc theo đơn vị hành chính thay vì theo cách tiếp cận khác nhau giữa đô thị và nông thôn. Theo đó, khoản 1 Điều 14 cần được sửa theo hướng: phường, đặc khu là đô thị và xã, đặc khu đã được quy hoạch là đô thị thì lập Quy chế quản lý kiến trúc đô thị; các xã, đặc khu còn lại thì lập Quy chế quản lý kiến trúc nông thôn. Đồng thời, giao UBND cấp tỉnh quy định cụ thể việc lập quy chế quản lý kiến trúc đô thị, nông thôn trên địa bàn.

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào diện báo cáo phòng, chống rửa tiền

hong-ha.jpg
Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (Đoàn thành phố Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ. Ảnh: Quang Vinh

Tham gia góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Phòng, chống rửa tiền, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (Đoàn thành phố Hà Nội) đề xuất nhiều nội dung nhằm tăng cường hiệu quả phòng, chống rửa tiền, củng cố an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật.

Đại biểu thống nhất với quy định bổ sung dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm đối tượng báo cáo phi tài chính, đồng thời bổ sung các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ đặc thù đối với lĩnh vực này.

Theo đại biểu, sự phát triển mạnh mẽ của giao dịch trực tuyến và công nghệ chuỗi khối (blockchain) đã khiến tài sản mã hóa trở thành kênh lưu chuyển dòng tiền xuyên biên giới rất phức tạp. Với đặc tính ẩn danh cao và chưa chịu sự kiểm soát đầy đủ của các cơ quan quản lý tiền tệ truyền thống, loại tài sản này đang bị các đối tượng phạm tội lợi dụng để rửa tiền, trốn thuế và tài trợ khủng bố.

Đại biểu cho rằng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện vẫn còn khoảng trống pháp lý lớn đối với tài sản mã hóa. Vì vậy, việc bổ sung dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm đối tượng báo cáo và xây dựng danh mục các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ tại Điều 33a là giải pháp cấp bách nhằm khắc phục lỗ hổng pháp lý.

Đại biểu cũng thống nhất với đề xuất bổ sung nghiệp vụ đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp vào danh mục hoạt động được phép thực hiện của ngân hàng thương mại theo Điều 114 của Luật Các tổ chức tín dụng.

Theo đại biểu, thị trường trái phiếu doanh nghiệp thời gian qua đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng niềm tin, ảnh hưởng đến an toàn hệ thống tài chính và quyền lợi của hàng vạn nhà đầu tư. Một trong những nguyên nhân là doanh nghiệp phát hành có thể tự ý thay đổi, chuyển dịch hoặc định giá sai tài sản bảo đảm mà thiếu sự giám sát của một tổ chức độc lập.

dai-bieu.jpg
Các đại biểu Quốc hội Đoàn thành phố Hà Nội thảo luận tại Tổ chiều 6-8. Ảnh: Quang Vinh

Đại biểu cho rằng việc giao ngân hàng thương mại thực hiện vai trò đại lý quản lý tài sản bảo đảm là hết sức cần thiết nhằm thiết lập lại kỷ cương cho thị trường vốn. Theo đó, quy định này sẽ chuẩn hóa địa vị pháp lý và trách nhiệm của ngân hàng trong hoạt động quản lý tài sản bảo đảm. Trên thực tế, nhiều ngân hàng đã thực hiện nghiệp vụ này nhưng chưa có cơ sở pháp lý đầy đủ, dẫn đến khó khăn trong xử lý tranh chấp và nợ xấu khi doanh nghiệp phát hành mất khả năng thanh toán.

Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại có lợi thế về năng lực thẩm định, quản lý và xử lý tài sản bảo đảm như bất động sản, cổ phần hoặc các quyền tài sản khác. Việc ngân hàng tham gia quản lý sẽ hạn chế tình trạng doanh nghiệp tự ý tẩu tán hoặc làm thay đổi hiện trạng tài sản.

Đại biểu cho rằng quy định này còn góp phần khôi phục niềm tin của nhà đầu tư đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, tạo điều kiện khơi thông kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, đồng thời tạo thêm nguồn thu dịch vụ hợp pháp cho các ngân hàng thương mại.