Chìa khóa vẫn là khâu tổ chức thực hiện
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức thực hiện.

Đây không chỉ là một nhiệm vụ trước mắt, mà còn là thông điệp có ý nghĩa chiến lược về đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia.
1. Thông điệp ấy xuất phát từ một thực tế đã được nhận diện từ lâu nhưng đến nay tiếp tục đặt ra cấp thiết hơn bao giờ, bởi cùng với việc ban hành các chủ trương, đề ra quyết tâm chính trị rất cao, điều cần nhất là biến những chủ trương đó thành kết quả cụ thể trong đời sống. Khoảng cách giữa nghị quyết và thực tiễn, giữa mục tiêu và thành quả, giữa kỳ vọng của nhân dân và chất lượng phục vụ của bộ máy, suy cho cùng, được quyết định bởi năng lực tổ chức thực hiện.
Thời gian qua, đặc biệt trong hơn một năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương lớn, mở ra thời cơ và những không gian phát triển mới. Tuy nhiên, có nơi, nghị quyết vẫn chậm đi vào cuộc sống; chính sách còn bị “nghẽn” ở khâu triển khai; những việc đúng và cần làm nhiều khi kéo dài do sự thiếu quyết liệt, thiếu phối hợp hoặc tâm lý né tránh trách nhiệm. Thực tế đó cho thấy, khâu yếu không còn nằm ở tư duy hoạch định, mà nằm ở năng lực hiện thực hóa chủ trương thành hành động và kết quả.
Chính vì vậy, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức thực hiện vừa là sự nhắc nhở về phương pháp công tác, vừa thể hiện sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy lãnh đạo. Đó là từ chú trọng ban hành chủ trương sang coi trọng hiệu quả thực thi; từ đánh giá quá trình sang đánh giá kết quả; từ quản lý theo thủ tục sang quản trị hướng tới giá trị tạo ra cho xã hội.
Một nền quản trị hiệu quả trước hết phải là nền quản trị biết biến nghị quyết thành hành động. Giá trị của một chủ trương không nằm ở số lượng văn bản được ban hành hay số hội nghị được tổ chức, mà ở những công trình được hoàn thành, những dự án được triển khai đúng tiến độ, những thủ tục được cắt giảm, những nguồn lực được khơi thông và sự hài lòng ngày càng cao của người dân, doanh nghiệp. Chỉ khi đó, nghị quyết mới thực sự có sức sống.
2. Muốn vậy, năng lực tổ chức thực hiện phải được nâng lên một cách toàn diện. Đó là năng lực cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình hành động khả thi; năng lực xác định nhiệm vụ và phân công theo phương châm “6 rõ” và “một việc một đầu mối xuyên suốt”; năng lực phối hợp giữa các cơ quan, các cấp, các ngành; năng lực phát hiện và tháo gỡ kịp thời những điểm nghẽn phát sinh; đồng thời là năng lực kiểm tra, giám sát để bảo đảm mọi chủ trương đều được thực hiện đến cùng.
Trong những thành tố ấy, trách nhiệm cá nhân giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là vai trò của người đứng đầu và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Thực tiễn cho thấy, nhiều công việc chậm trễ không phải vì thiếu cơ chế hay thiếu nguồn lực, mà vì trách nhiệm bị hòa lẫn trong tập thể, không xác định rõ ai là người chịu trách nhiệm cuối cùng. Bởi vậy, yêu cầu cá thể hóa trách nhiệm, giao việc theo sản phẩm, đánh giá bằng kết quả đầu ra là bước chuyển cần thiết để nâng cao năng lực thực thi.

Ở góc độ rộng hơn, năng lực tổ chức thực hiện còn là thước đo chất lượng thể chế và năng lực cạnh tranh quốc gia cũng như của mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương. Trong bối cảnh cạnh tranh phát triển ngày càng gay gắt, các quốc gia hay đơn vị, địa phương còn cạnh tranh bằng chính tốc độ ra quyết định, khả năng tổ chức thực thi và hiệu quả vận hành của bộ máy lãnh đạo, quản lý. Một quyết sách đúng nhưng triển khai chậm có thể làm mất đi cơ hội phát triển; một dự án kéo dài nhiều năm vừa làm tăng chi phí, vừa làm giảm niềm tin của nhà đầu tư và xã hội. Ngược lại, một nền quản trị biết hành động nhanh, phối hợp hiệu quả và xử lý kịp thời các điểm nghẽn sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.
3. Đối với Việt Nam, khi mục tiêu phát triển nhanh và bền vững được đặt ra ở mức cao hơn, yêu cầu về năng lực tổ chức thực hiện càng trở nên cấp bách. Dư địa tăng trưởng theo chiều rộng đang dần thu hẹp, trong khi những động lực mới như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân hay cải cách thể chế đều đòi hỏi một bộ máy có năng lực thực thi vượt trội. Không có năng lực tổ chức thực hiện, mọi chủ trương đúng đắn đều có nguy cơ bị giảm hiệu lực; ngược lại, nếu tổ chức thực hiện tốt, nhiều khó khăn có thể được hóa giải và nhiều nguồn lực sẽ được khơi thông.
Đối với đội ngũ cán bộ, yêu cầu này cũng đặt ra sự thay đổi trong cách đánh giá năng lực. Một cán bộ giỏi là người nắm vững chủ trương, am hiểu chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm, và cũng phải là người tạo ra kết quả. Hiệu quả công việc phải được đo bằng tiến độ, chất lượng, sản phẩm và tác động thực tế đối với sự phát triển cũng như đối với người dân, doanh nghiệp. Đó chính là tinh thần lấy kết quả làm thước đo, lấy hiệu quả thực tiễn làm tiêu chuẩn đánh giá mà Trung ương và các địa phương, tiêu biểu như thành phố Hà Nội đang kiên trì xây dựng.
Trong bối cảnh cả nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều mục tiêu lớn và yêu cầu rất cao, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc nâng cao năng lực tổ chức thực hiện mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của một hội nghị quán triệt nghị quyết. Đó là yêu cầu đổi mới tư duy quản trị, đổi mới phương thức lãnh đạo và xây dựng một nền hành chính lấy hiệu quả phục vụ làm mục tiêu cao nhất.
Nghị quyết chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được chuyển hóa thành những công trình, những con số tăng trưởng, những cải cách thể chế, những dịch vụ công chất lượng hơn và sự hài lòng ngày càng lớn của nhân dân. Bởi vậy, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện là yêu cầu đối với từng cán bộ, từng cơ quan, từng địa phương, trở thành thước đo của một nền quản trị hiệu quả và cũng là nhân tố quyết định khả năng biến khát vọng phát triển thành hiện thực.