Chính trị

Đổi mới mô hình phát triển - mở không gian tăng trưởng mới cho đất nước

Đình Hiệp 29/07/2026 - 10:19

Sáng 29-7, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

ttxvn-hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-trung-uong-iii-khoa-xiv-8919471.jpg.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội (Hà Nội). Ảnh: TTXVN

Nhìn thẳng thực tiễn để xác lập mô hình phát triển mới

Lần đầu tiên, Trung ương ban hành một nghị quyết chuyên đề về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, đặt nền móng cho việc kiến tạo một mô hình phát triển thống nhất, toàn diện và phù hợp với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Theo đó, mô hình phát triển không chỉ là mô hình kinh tế mà là cấu trúc tổng thể của quốc gia, bao gồm hệ quan điểm, mục tiêu, các trụ cột phát triển, động lực tăng trưởng và cơ chế vận hành giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.

Qua gần bốn thập niên đổi mới, Việt Nam đã từng bước hình thành và hoàn thiện mô hình phát triển phù hợp với điều kiện đất nước. Từ một nền kinh tế nghèo, quy mô nhỏ, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển năng động của khu vực. Năm 2025, quy mô GDP đạt khoảng 514 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới và thứ tư ASEAN; tổng kim ngạch thương mại thuộc nhóm 15 quốc gia lớn nhất toàn cầu. Thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng, đời sống nhân dân được cải thiện, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao.

t-7.jpg
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày Nghị quyết. Ảnh: Quochoi.vn

Tuy nhiên, Trung ương cũng chỉ rõ nhiều hạn chế đang trở thành điểm nghẽn của quá trình phát triển. Mô hình tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào mở rộng đầu tư, khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công lắp ráp; năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và tự chủ công nghệ còn thấp; văn hóa chưa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh; quản trị quốc gia chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới.

Trong khi đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và những biến động địa chính trị đang làm thay đổi sâu sắc môi trường phát triển toàn cầu, đòi hỏi Việt Nam phải có bước chuyển mang tính đột phá.

Xuất phát từ yêu cầu đó, Nghị quyết xác định đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa lịch sử, tạo nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045 và tầm nhìn đến năm 2130. Một trong những điểm mới nổi bật của Nghị quyết là xác lập mô hình phát triển Việt Nam theo định hướng "tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập", trong đó con người vừa là trung tâm, vừa là mục tiêu, đồng thời là động lực và chủ thể của sự phát triển.

Theo Nghị quyết, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chính của tăng trưởng; nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực quốc gia là nguyên tắc trung tâm. Đồng thời, mô hình phát triển được vận hành trên nền tảng quản trị quốc gia hiện đại với cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản trị, nhân dân làm chủ", bảo đảm sự phối hợp hài hòa giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.

dao.jpg
Các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội dự tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Quang Thái

Nghị quyết cũng đặt ra các mục tiêu rất cụ thể theo từng giai đoạn. Đến năm 2030, Việt Nam phải cơ bản hình thành nền tảng của mô hình phát triển mới, tạo đột phá về thể chế, quản trị quốc gia, nghiên cứu phát triển, khoa học - công nghệ và doanh nghiệp dẫn dắt đổi mới sáng tạo.

Đến năm 2035, đất nước hoàn thành cơ bản quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển mới với hệ thống các mô hình thành phần được vận hành đồng bộ trên tất cả lĩnh vực từ kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vận hành hiệu quả mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế xanh; đến năm 2130 trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, là trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu châu Á.

Động lực tăng trưởng mới từ đổi mới thể chế, khoa học - công nghệ

Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Nghị quyết đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trước hết là đổi mới thể chế và quản trị quốc gia theo hướng chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển; xây dựng Chính phủ số, dữ liệu dùng chung, bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; quản trị bằng mục tiêu và kết quả đầu ra. Đây được xem là khâu đột phá nhằm tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và phát triển.

Trọng tâm của Nghị quyết là tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng lấy năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao làm nền tảng. Đây được xem là bước chuyển căn bản từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ sang mô hình phát triển dựa trên tri thức và công nghệ.

Theo đó, Việt Nam sẽ tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo tư duy đa tầng, đa cực, liên kết vùng và liên kết đô thị; khai thác hiệu quả lợi thế của từng địa phương, từng vùng kinh tế, tạo động lực tăng trưởng mới. Không gian phát triển không chỉ giới hạn trên đất liền mà còn mở rộng ra kinh tế biển, kinh tế không gian ngầm, không gian tầm thấp và không gian vũ trụ, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới.

t-2.jpg
Các đại biểu tham dự hội nghị theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu trụ sở Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Quang Thái

Một điểm nhấn quan trọng khác là xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp hiện đại, trong đó doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và chia sẻ rủi ro; thúc đẩy liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất, kinh doanh; tạo điều kiện thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển các doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp dẫn dắt. Cùng với đó là phát triển đồng bộ hạ tầng chiến lược, hạ tầng số, hạ tầng logistics, hạ tầng năng lượng và hạ tầng giao thông hiện đại, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

Không chỉ hướng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Nghị quyết còn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng phát triển. Các cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực sẽ được đổi mới theo nguyên tắc lấy hiệu quả và tác động phát triển làm thước đo; thúc đẩy đô thị hóa trở thành động lực tăng trưởng quan trọng, đồng thời xây dựng các thị trường nhân tố sản xuất hiện đại, minh bạch và liên thông.

Song song với phát triển kinh tế, Trung ương dành sự quan tâm đặc biệt đến phát triển con người và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Nghị quyết yêu cầu xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt, thích ứng với già hóa dân số và những biến động của thị trường lao động; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, kỹ năng số và năng lực đổi mới sáng tạo; xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân học tập suốt đời và thích ứng với quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Đáng chú ý, lần đầu tiên phát triển văn hóa được đặt ngang tầm với các động lực kinh tế. Nghị quyết xác định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm của quốc gia. Phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, xuất khẩu văn hóa, xây dựng văn hóa số và thu hút, trọng dụng nhân tài được xem là những nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo động lực phát triển lâu dài.

Để Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống, Trung ương yêu cầu cả hệ thống chính trị tập trung xây dựng chương trình hành động, rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giám sát và kiểm tra việc thực hiện. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ thành chương trình, kế hoạch phù hợp, bảo đảm triển khai đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả.