Tìm đường về tổ ấm của một liệt sĩ
Nhập ngũ khi mới 16 tuổi, dũng sĩ "chân đồng da sắt" Nguyễn Trần Tín không chỉ nổi tiếng với cuộc vượt ngục giữa ban ngày tại nhà tù Phú Quốc mà còn là một cán bộ an ninh mưu trí, hết lòng vì dân nơi chiến trường Long Châu Hà. Hy sinh ở tuổi 25, phần mộ của anh đến nay vẫn thất lạc do sự cố quy tập năm xưa. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, hành trình đưa anh trở về với gia đình vẫn là nỗi trăn trở của người thân cùng đồng đội.
Nhiệt huyết lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc
Anh đi ba tháng, hết chiều dài đất nước.
Ngày trở về, hơn 40 năm mãi sao chẳng đến nơi.
Cả nhà mong anh không phút nào nguôi.
Mong anh về gần gũi bên nén nhang trên bàn thờ Tổ quốc.
Vẫn biết anh là chiến sĩ an ninh bảo vệ cho đất nước.
Mong đưa anh về với đất mẹ thân thương.
Đó là những dòng thơ được người em trai Liệt sĩ Nguyễn Trần Tín ghi lại từ lòng mình.

Nguyễn Trần Tín (sinh năm 1949), quê gốc ở trung tâm thị xã Thanh Hóa (cũ) nay là thành phố Thanh Hóa. Anh sinh ra và lớn lên trên con phố Huế của Hà thành. Mẹ anh theo ba anh ra Hà Nội và lần lượt 5 người con ra đời, chung sống trong căn hộ chật hẹp ở số nhà 304 phố Huế.
Hoàn cảnh gia đình khó khăn, học hết lớp 9, tháng 10-1965, anh Tín xin theo học lớp kỹ thuật cơ khí khóa 5 do Bộ Công nghiệp mở tại nhà máy Dược, Hà Nội. Một năm sau, anh chính thức trở thành công nhân xí nghiệp vận tải Cục Vật tư, Bộ Công nghiệp nhẹ Hà Nội.
Chàng trai 16 tuổi, có vóc dáng cao lớn vượt trội so với thanh niên thời đó, được mẹ anh là bà Trần Thị Thơm tin yêu nhất nhà vì “Tín khéo tay, làm gì cũng chắc chắn” tưởng sẽ gắn bó với nhà máy ở gần nhà, gần mẹ. Nhưng cuộc chiến ở miền Nam bước vào giai đoạn cam go, tiếng gọi của Tổ quốc thôi thúc chàng trai Hà Nội lên đường nhập ngũ.
Tín viết đơn nhập ngũ, khi đi chỉ kịp nói với mẹ “Con đi sau trở về sẽ xây nhà to hơn, đẹp hơn cho mẹ” rồi vội vã khoác ba lô lên đường. Mẹ anh ngậm ngùi nói: Con đi cố gắng hoàn thành nhiệm vụ và giải phóng xong về nhà với ba mẹ nhé.
Tín khoác ba lô lên đường ôm theo giấc mơ giản dị nhỏ nhoi “Giải phóng xong con về xây lại nhà cho mẹ”!
Người em của anh Tín là anh Nguyễn Trần Nghĩa xúc động kể lại: Từ ngày nhập ngũ, anh Tín chỉ rẽ về thăm nhà được duy nhất một lần, mà cũng chỉ kịp đứng ở cửa để gửi lại cho em trai chiếc mũ của quân đội, có thể cụp xuống để che tai, rồi lại vội vã hành quân cùng đơn vị. Đến bây giờ chiếc mũ đó anh Nghĩa vẫn giữ cùng với chiếc mũ sắt hồi còn học nghề cơ khí, anh Tín đã gò cho em trai đội tránh mảnh bom rơi. Đêm hôm ấy anh Tín đi bộ ra ga Hàng Cỏ lên tàu đi thẳng vào Nam.
Binh nhất Nguyễn Trần Tín trở thành chiến sĩ trong đoàn quân Công nhân Nam tiến vào hoạt động ở chiến trường Sài Gòn, Gia Định. Chỉ hơn 2 tháng sau ngày nhập ngũ, Tín đã được đơn vị 6934 tặng danh hiệu “Dũng sĩ chân đồng da sắt”.
Tháng 5-1968, Nguyễn Trần Tín là tiểu đội trưởng, tham gia tấn công đợt 2 vào Sài Gòn, Gia Định. Đơn vị của anh hoạt động ở vùng ven và chuẩn bị cho đợt tổng tiến công tiếp theo. Chiến đấu suốt hơn 1 tháng, đến ngày 4-6-1968, Tín bị thương và bị bắt làm tù binh cùng một số đồng chí khác, bị địch đưa đi tại nhiều trại giam ở Sài Gòn, Biên Hòa. Ngày 30-8-1968 anh bị đày ra đảo Phú Quốc.
Chấn động cuộc vượt ngục giữa ban ngày
Trong hồ sơ nhà tù Phú Quốc những năm 70 của thế kỷ trước lưu lại bản tường trình về việc một tù nhân đã vượt ngục giữa ban ngày. Sự việc xảy ra đúng dịp lễ Noel, ngày 24-12-1970, đã làm chấn động nhà tù. Người tù vượt ngục giữa ban ngày ấy là Nguyễn Trần Tín, dũng sĩ “chân đồng da sắt” của Trung đoàn công binh Nam tiến, sau này là cán bộ an ninh Ban An ninh tỉnh Long Châu Hà nay là tỉnh An Giang.

Anh Tín cũng bị chúng tra tấn dã man nhưng nhất quyết kiên trung giữ khí tiết của một người Bộ đội Cụ Hồ, một đảng viên. Trong tù anh tích cực hoạt động, sinh hoạt chi bộ, giữ vững niềm tin có ngày tự do để tiếp tục được trở về đội ngũ chiến đấu.
Giữa năm 1970, Chi bộ trại D5 lập kế hoạch, lựa chọn người sẽ vượt ngục. Nguyễn Trần Tín và đồng chí Phan Văn Đông có ý chí sắt đá, lại được lính cai tù tin tưởng, đã được chi bộ lựa chọn.
Anh Tín và cả chi bộ nhà tù cùng xác định nếu không thành công thì sẵn sàng chấp nhận hy sinh. Trước đó, hầu như các cuộc vượt ngục đều đã bị địch bắn chết ngay trên hàng rào. Kế hoạch vượt ngục của anh Tín được chi bộ thông qua và đã mất gần hai năm chuẩn bị.
Anh Phan Văn Đông, người vượt ngục cùng anh Tín đã bị địch bắt lại chiều ngày 25-12-1970, sau được trả tự do, hiện sống tại Đà Lạt (Lâm Đồng) kể lại: Thời điểm đó, suốt từ tháng 9-1970, anh em trong chi bộ đã nhường cơm để Tín và anh ăn thêm cho mập mạp hơn, một phần để phơi khô dành cho hai anh khi thoát ra ngoài, trên đường tìm về căn cứ còn có cái chống đói. Cùng với đó là kế hoạch quan sát lịch trình của lính gác. Anh Tín đã phải tập tác phong, phong thái đi lại của bọn lính cai tù để chi bộ cùng sửa, sao cho giống nhất, tự nhiên nhất.
Thời điểm tốt nhất cho chuyến vượt ngục được xác định là dịp lễ Noel, vì khi đó tâm lý của lính gác cũng lơi lỏng hơn. Lợi dụng lúc xe chở thực phẩm cho trại giam đến giao hàng, được sự bố trí anh Lập là tù binh gác cổng trong là người của chi bộ, anh Tín bước vào phòng giám thị, cầm tờ báo “Con đường mới” thường phát cho tù binh, mặc sẵn bộ đồ quân cảnh bên trong, rồi nhanh chóng lột bỏ bộ quần áo tù, ung dung, nhẹ nhàng mở cổng bước ra bên ngoài. Con lộ dài trước mắt, anh sải bước chân tự do đi về phía Bắc đảo Phú Quốc.
Chi bộ D5 cũng đã liên lạc được với du kích huyện Phú Quốc nên khi anh Tín thoát vào rừng đã được phía ta đón kịp thời. Đến chiều cùng ngày, hai anh được 3 đồng chí du kích của ta đưa về căn cứ, bước vào những ngày chiến đấu trên đảo Phú Quốc và trở thành cán bộ an ninh, Ban An ninh tỉnh Long Châu Hà.
Bầu nhiệt huyết cách mạng, ý chí phấn đấu sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở vùng khó khăn, nguy hiểm của Nguyễn Trần Tín đã được ghi nhận. Báo cáo của Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang tỉnh An Giang năm 1976 đề nghị truy tặng huân chương quyết thắng hạng III và truy tặng thăng chức vụ cho đồng chí Nguyễn Trần Tín đã xác nhận, sau khi vượt ngục thành công, đồng chí Tín tiếp tục công tác an ninh huyện Phú Quốc. Cho đến ngày 28-8-1972, anh được lệnh cùng với một số đồng chí khác về Trung ương Cục miền Nam học tập. Niềm vui ngập tràn trong lòng người chiến sĩ mới 23 tuổi. Ngày 3-12-1972, anh được bổ sung cho An ninh Long Châu Hà.

Nhận nhiệm vụ mới vô cùng phức tạp, chưa có kinh nghiệm công tác nhưng Nguyễn Trần Tín đã luôn thể hiện sự cầu thị, ham học hỏi và anh nhanh chóng bắt nhịp cùng công việc. Từ công việc thư ký văn phòng kiêm tài vụ Ban An ninh tỉnh Long Châu Hà đến công tác hồ sơ nghiệp vụ, anh đều để lại dấu ấn. Theo nhận xét của Ban Chỉ huy An ninh Long Châu Hà sau này là Công an nhân dân vũ trang tỉnh An Giang, Tín là một cán bộ có năng khiếu, thông minh và có khả năng nghiên cứu, luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ vào những nơi khó khăn, đột nhập các ấp chiến lược do địch nắm giữ: “Giao đồng chí làm tài vụ có sổ sách ghi chép rõ ràng, giao đi nghiên cứu xây dựng hồ sơ đối tượng luôn bảo đảm đúng đối tượng bắt diệt không sai sót tên nào”. Trong 2 năm liền, Ban An ninh Long Châu Hà đã được cấp ủy khen ngợi.
Khả năng làm dân vận của Tín được đồng nghiệp nể phục. Chàng trai Hà Nội vừa khéo léo trong ứng xử, vừa biết sử dụng chính tình cảm chân thành của mình để thuyết phục người dân. Anh dạy chữ, dạy võ cho trẻ em, vốn kiến thức về các bài thuốc dân gian anh tích lũy được dùng để chữa khỏi bệnh cho nhiều người đã khiến nhân dân cảm phục, tin yêu. Từ những sự chân thành, hết lòng vì dân mà cô gái miền Nam đã đem lòng yêu mến anh. Anh Tín có thư gửi về cho gia đình còn giữ nguyên nếp ăn nói của một chàng trai Hà Nội: “Nếu con thương và xây dựng với một cô bé miệt vườn trong này, cậu mợ có đồng ý không?”. Mối nhân duyên với cô gái miền Nam vừa mới chớm thì anh Tín - khi đang là Đại đội phó Công an vũ trang Long Châu Hà đi công tác cùng với đồng chí Tám Quyết tại xã Nam Thái Sơn, huyện Châu Thành A, bị địch phục kích và hy sinh tại Kênh Ba Ngàn vào ngày 4-5-1974, khi mới 25 tuổi.
Mối tình với cô gái miền Nam còn dang dở. Rồi người mẹ anh đã lặn lội vào Nam nhiều chuyến hằng mong được đón anh “trở về tổ ấm” như tựa đề nhật ký những ngày ở chiến trường của anh để lại. Nhưng bà đã ra đi sau hơn 40 năm chờ đợi mà vẫn chưa đón được con về.
Trăn trở chưa nguôi ngoai
Năm 1976, đất nước đã hoàn toàn thống nhất, theo chủ trương của nhà nước các mộ liệt sĩ được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ tỉnh hoặc huyện, mộ anh Tín cũng được di dời từ nghĩa trang xã lên nghĩa trang liệt sĩ huyện Hòn Đất. Do chưa có kinh nghiệm và do lực lượng vũ trang tại chỗ làm nên 11 ngôi mộ liệt sĩ chôn ở xã Nam Thái Sơn được chuyển lên nghĩa trang liệt sĩ huyện Hòn Đất vào một buổi chiều tối trời mưa. Dù đã ghi tên các anh vào tờ giấy và để viên gạch chèn lên trên nhưng đêm đó trời mưa to, những tờ giấy đã bị trôi mất, bởi vậy 11 ngôi mộ này lại được coi là mộ liệt sĩ chưa có tên. Nay 7 ngôi đã được đưa về quê hương còn 4 ngôi vẫn chưa xác định được thân nhân cho các anh.
Gia đình Liệt sỹ Nguyễn Trần Tín hy vọng sớm tìm được mộ của anh. Và khi hy sinh, anh là chiến sĩ an ninh tỉnh Long Châu Hà, gia đình cũng mong muốn Bộ Công an ghi nhận Nguyễn Trần Tín là liệt sĩ đã phục vụ trong ngành Công an.