Kiến tạo thể chế để công nghiệp hỗ trợ tăng trưởng hai con số
Cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ kỳ vọng Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, kiến tạo thể chế cho ngành tăng trưởng hai con số trong kỷ nguyên mới.
Chủ trương đúng và cần thiết
Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 đặt mục tiêu đến năm 2030, tập trung phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng trong các ngành điện tử, năng lượng, đường sắt, cơ khí, ô tô, công nghệ cao, dệt may, da giày; từng bước làm chủ công nghệ lõi, nâng cao tự chủ công nghiệp và hướng tới tăng trưởng hai con số.

Đến năm 2035, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phấn đấu đạt trình độ công nghệ tiên tiến, tham gia sâu chuỗi giá trị toàn cầu, chủ động nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và nâng tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều ngành lên 35-70%.
Theo định hướng mới, phát triển công nghiệp hỗ trợ phải gắn với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, nâng tỷ lệ nội địa hóa và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Doanh nghiệp được xác định là trung tâm của quá trình này, trong khi Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua hoàn thiện thể chế, hỗ trợ khoa học, công nghệ, nguồn lực và thị trường.
Từ đó hướng tới hình thành các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hạt nhân, đủ năng lực trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn trong nước và quốc tế.

Nhìn nhận về Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ 2026–2035, ông Nguyễn Hồng Phong - Chủ tịch Công ty TNHH Dụng cụ An Mi (An Mi Tool) khẳng định, đây là một chủ trương đúng và rất cần thiết. Điểm quan trọng không nằm ở chính sách mới, mà ở khả năng giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu của Samsung, Foxconn, BYD, LG, Canon...
Với doanh nghiệp, ông Nguyễn Hồng Phong kỳ vọng chương trình tập trung vào kết nối thị trường, tạo cơ chế kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp Việt và các tập đoàn FDI, thay vì chỉ dừng ở hội thảo, xúc tiến...
Hỗ trợ đầu tư công nghệ từ tín dụng ưu đãi, quỹ đổi mới công nghệ, hỗ trợ tự động hóa và chuyển đổi số. Ngoài ra, phát triển nhân lực kỹ thuật với đào tạo kỹ sư, quản lý sản xuất, chuyên gia chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời nâng cao năng lực quản trị. Nghĩa là hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản trị, chất lượng, kiểm soát nội bộ và tiêu chuẩn quốc tế.
“Tôi mong chương trình được đo bằng kết quả cụ thể: Số doanh nghiệp Việt trở thành nhà cung cấp cấp 1, tỷ lệ nội địa hóa và doanh thu công nghiệp hỗ trợ tăng lên, thay vì số lượng hội nghị hay khóa đào tạo được tổ chức. Đây mới là thước đo thành công thực sự”, doanh nhân này nói.
Đồng thời cho rằng, chính sách có, việc còn lại là ở nội tại, năng lực hành động và sức bật thực tế của doanh nghiệp Việt. Doanh nghiệp phải đổi mới, nhìn nhận yêu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa hệ thống vận hành, phát triển con người và ứng dụng công nghệ.
Thời cơ vàng thực hiện
Rõ ràng, “độ mở” về chính sách đã có, yếu tố quyết định thành công sẽ nằm ở tốc độ chuyển động của doanh nghiệp và khả năng biến cơ hội thành năng lực cạnh tranh thực sự. Từ thực tế đó, các chuyên gia, doanh nghiệp cho rằng, đã đến lúc công nghiệp hỗ trợ Việt Nam không thể chỉ dừng ở vai trò gia công hay cung ứng đơn lẻ, mà phải chuyển sang tư duy xây dựng hệ sinh thái sản xuất, hình thành các cụm liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và FDI.
Ông Nguyễn Hoàng - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thành phố Hà Nội (HANSIBA) cho rằng, cơ hội hiện nay phải được nhìn bằng năng lực thực chất chứ không chỉ là những kỳ vọng chung chung.
Theo ông Nguyễn Hoàng, với quy mô nền kinh tế khoảng 500 tỷ USD và dân số hơn 100 triệu người, Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa phát triển, nhưng giá trị doanh nghiệp trong nước thực sự tạo ra vẫn chưa tương xứng khi khu vực FDI đang chiếm tỷ trọng lớn. Do đó, phải chuyển hóa cơ hội thành năng lực thực chất của doanh nghiệp nội địa.
Để phát triển, công nghiệp hỗ trợ đồng thời giải quyết nhiều bài toán: vốn, hạ tầng, lao động, công nghệ và cải cách thủ tục hành chính. Đặc biệt, yêu cầu số hóa sản xuất được xem là yếu tố bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Doanh nghiệp phải minh bạch toàn bộ quy trình sản xuất, truy xuất được dữ liệu theo thời gian thực và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe.
Các nhóm giải pháp trọng tâm bao gồm hoàn thiện thể chế và quy hoạch với việc thí điểm hỗ trợ đặc thù cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam. Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn liền với vùng kinh tế trọng điểm và lĩnh vực như điện tử bán dẫn – chip – đường sắt tốc độ cao – hàng không vũ trụ… thay vì phát triển rời rạc theo từng địa phương.
Bên cạnh đó, thúc đẩy các chương trình hợp tác quốc tế tầm cao, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận, chuyển giao công nghệ mới và cải tiến quy trình quản trị. Cộng đồng doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ hiện xem đây là "thời cơ vàng" để đột phá chuỗi giá trị và tham gia sâu rộng hơn vào nền kinh tế toàn cầu.