Ký ức dẫn đường đưa đồng đội trở về
Trong không khí cả nước hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027), Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin đang được triển khai với quy mô lớn nhất từ trước đến nay.
Đằng sau những con số về hàng nghìn hài cốt được quy tập là biết bao hành trình lặng lẽ của những cựu chiến binh vẫn đau đáu với lời hẹn năm xưa. Với họ, cuộc chiến giành độc lập, tự do cho đất nước đã kết thúc hơn nửa thế kỷ, nhưng hành trình đưa đồng đội trở về vẫn chưa bao giờ dừng lại.
Từ chiến trường năm xưa đến "mệnh lệnh" của hôm nay
Trong căn nhà nhỏ của những cựu chiến binh ở phường Hà Đông, câu chuyện về chiến tranh không bắt đầu bằng chiến công hay những tấm huân chương đã ngả màu thời gian. Họ nhắc đến đồng đội trước tiên. Những người đã nằm lại nơi chiến trường, để những người còn sống mang theo món nợ ân tình suốt cả cuộc đời.

Ông Lê Quang Luận, sinh năm 1947, ở tại tổ dân phố 6, phường Hà Đông vẫn nhớ như in mùa hè năm 1967. Khi bom Mỹ dội xuống làng Đơ (thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây cũ), biến đau thương thành ý chí, chàng trai tuổi 18 đã cùng bạn bè viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Từ đó là những cuộc hành quân nối dài qua Khe Sanh, Quảng Nam - Đà Nẵng, chiến dịch Lam Sơn 719 (đường 9 - Nam Lào), Bắc Tây Nguyên rồi Thành cổ Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972.
Ở một chiến trường khác, tháng 8-1969, chàng thanh niên Phạm Hồng Lợi, sinh năm 1952, ở khu đô thị Văn Khê, phường Hà Đông cũng gác lại tuổi trẻ để khoác ba lô lên đường chiến đấu. Biên chế vào Đại đội hỏa lực DKZ 16, Trung đoàn 21, Sư đoàn 3 Sao Vàng, ông cùng đồng đội chủ yếu chiến đấu trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Những ngày bám trận địa, những trận đánh ác liệt chống xe tăng địch đã trở thành ký ức không thể phai mờ. Hai lần bắn cháy xe tăng, ông được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Dũng sĩ diệt xe tăng năm 1972.
Hai người lính, hai chiến trường khác nhau nhưng cùng thuộc về một thế hệ sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân cho Tổ quốc. Thế nhưng, điều còn ở lại sâu đậm nhất trong ký ức của họ sau chiến tranh không phải những chiến công. Đó là những người đồng đội không bao giờ trở về.
Chiến tranh khép lại bằng Chiến dịch Mùa xuân 1975, nhưng đối với nhiều cựu chiến binh, họ vẫn tiếp tục “cuộc hành quân” lớn của cuộc đời sau ngày đất nước thống nhất. Họ trở về với cuộc sống đời thường, người công tác trong ngành Tài chính, người gắn bó nhiều năm với Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương. Song càng nhiều tuổi, ký ức chiến trường càng trở nên da diết. Những cái tên đồng đội, những lời hẹn, những vị trí chôn cất tạm thời người ngã xuống năm xưa cứ trở đi trở lại trong tâm trí, như một "mệnh lệnh" không thể chối từ. Bởi họ hiểu rằng, nếu mình không trở lại, rất có thể sẽ không còn ai biết các anh đang nằm ở đâu...
Những “tấm bản đồ” trong ký ức
Có những lời hứa chỉ được nói trong vài giây ngắn ngủi giữa bom đạn. Nhưng phải đằng đẵng thời gian, người ở lại mới có cơ hội thực hiện.
Đại đội trưởng Lê Quang Luận không bao giờ quên giây phút người bạn cùng quê ở làng Lụa Vạn Phúc - liệt sĩ Nguyễn Văn Hạnh - trút hơi thở cuối cùng trên tay mình trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Bị thương nhiều lần nhưng vẫn bám trận địa, đến khi vết thương quá nặng, đồng chí Hạnh chỉ kịp dặn người bạn thân một câu ngắn ngủi: "Chúng ta còn, Quảng Trị còn. Tao chết, mày về báo tử với mẹ tao".

Lời trăn trối ấy theo ông Luận suốt hai chục năm sau đó. Nó không chỉ là ký ức về một người bạn, mà còn là lời nhắc nhở rằng vẫn còn những đồng đội chưa thể trở về với quê hương. Không chỉ riêng liệt sỹ Nguyễn Văn Hạnh, cựu chiến binh Lê Quang Luận còn rất nhiều lần trực tiếp cùng các đồng đội khác âm thầm lặn lội vào chiến trường xưa tìm dấu tích của người đã hy sinh, hay cung cấp thông tin cho người thân đi tìm các liệt sỹ. Các cựu chiến binh làm theo mệnh lệnh từ trái tim, từ niềm tin sẽ đưa bạn mình trở về với người thân, với gia đình…
Bà Nguyễn Thị Xuân Phương ở phường Hà Đông, em gái liệt sỹ Nguyễn Văn Hạnh chia sẻ: “Bác Lê Quang Luận đã giúp gia đình tôi thực hiện được tâm nguyện đưa hài cốt anh trai tôi về với đất mẹ. Đó là mối ân tình nối dài những cơ duyên ân nghĩa trong cuộc đời này”…
Với nỗi day dứt chưa bao giờ nguôi trong lòng, ông Phạm Hồng Lợi vẫn nhớ liệt sĩ Nguyễn Tài Châu, quê ở xã An Khánh - người đồng đội đã có ba con nhưng vẫn xung phong vào chiến trường. Ngoài giờ chiến đấu, ông Châu còn là "anh nuôi" của đại đội.

Năm 1971, tại xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi (cũ), sau một trận đánh ác liệt, đơn vị lui về khu vực suối cạn. Khi đang đi nhặt củi nấu cơm cho đồng đội, liệt sĩ Châu bất ngờ gặp cuộc càn quét của quân Mỹ và anh dũng hy sinh.
Do địch còn bao vây, đơn vị buộc phải rút lui. Hai ngày sau, ông Lợi cùng một đồng đội lặng lẽ quay lại. Giữa sườn đồi chỉ toàn đá với đá, hai người lính trẻ bới từng nắm đất, ghè từng viên đá, xếp thành một nấm mộ nhỏ để che chở cho người đồng đội vừa ngã xuống. Đó là điều duy nhất họ có thể làm trong hoàn cảnh chiến tranh.
Cũng chính ông Phạm Hồng Lợi là người trực tiếp khâm liệm, chôn cất liệt sĩ Nguyễn Hữu Luận, quê ở phường Dương Nội sau trận pháo kích dữ dội tại chân núi Vàng năm 1972. Hơn 3 thập kỷ, nhiều địa danh đã đổi thay, rừng cây không còn nguyên vẹn, những con suối cạn năm xưa cũng biến dạng theo thời gian. Nhưng kỳ lạ thay, trong trí nhớ của những người lính già, từng gốc cây, triền dốc, cửa hang hay khúc suối vẫn hiện lên gần như nguyên vẹn.
Có những “tấm bản đồ” được vẽ trên giấy, nhưng cũng có những tấm bản đồ chỉ tồn tại trong ký ức. Mỗi lần trở lại chiến trường xưa hay cung cấp thông tin cho người thân của các liệt sỹ, họ lại lần theo "tấm bản đồ" vô hình ấy để tìm đồng đội. Và trên hành trình ấy, nghĩa tình của nhân dân địa phương đã trở thành nguồn động viên lớn lao.
Ông Lê Quang Luận nhớ lại, nhiều cụ già vẫn nhớ vị trí những trận đánh năm xưa, kiên nhẫn chỉ từng gốc cây, từng bờ mương cũ. Có gia đình khi biết dưới khuôn viên nhà mình có thể có hài cốt liệt sĩ đã không chút ngần ngại dọn dẹp đồ đạc để đoàn tìm kiếm đào ngay dưới hiên nhà, trong vườn hay trên thửa ruộng đang canh tác.
“Những ấm nước chè xanh, bát cháo nóng, củ khoai nướng của bà con không chỉ tiếp sức cho những người đi tìm đồng đội, mà còn nối dài nghĩa tình quân dân sau chiến tranh. Chính nghĩa tình ấy đã giúp nhiều cuộc tìm kiếm tưởng chừng rơi vào bế tắc có thêm hy vọng”, ông Lê Quang Luận bùi ngùi chia sẻ.

Cũng ăm ắp nỗi nhớ về đồng đội, từ ký ức của ông Phạm Hồng Lợi, gia đình liệt sĩ Nguyễn Tài Châu đã tìm được nơi an nghỉ của người thân tại chân núi Vàng để đưa về quê hương vào năm 2001. Và từ những chỉ dẫn tỉ mỉ của ông, gia đình liệt sĩ Nguyễn Hữu Luận đã xác định được phần mộ, đưa hài cốt liệt sĩ trở về yên nghỉ tại quê nhà Dương Nội vào năm 2007. Mỗi lần một đồng đội được trở về cũng là lúc món nợ ân tình trong lòng người lính già được vơi đi thêm một phần.
Khi cả đất nước cùng đưa các anh trở về
Những câu chuyện của các cựu chiến binh hôm nay cũng chính là hình ảnh thu nhỏ của Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin mà cả hệ thống chính trị đang triển khai.
Chiến dịch 500 ngày đêm chính thức được phát động ngày 2-4-2026. Sau hơn 4 tháng thực hiện, đến tháng 7-2026, hơn 1.400 hài cốt liệt sĩ đã được tìm kiếm, quy tập ở trong và ngoài nước. Cùng với đó là việc thu thập hàng chục nghìn mẫu sinh phẩm thân nhân để giám định ADN, từng bước xác định danh tính những liệt sĩ còn thiếu thông tin.
Thành công của chiến dịch không chỉ đến từ sự vào cuộc của các cơ quan chức năng, mà còn được bồi đắp từ ký ức của những cựu chiến binh, từ những cuốn nhật ký chiến trường đã úa màu thời gian, từ những lá thư, tấm sơ đồ, những nhân chứng còn lưu giữ trong mình từng mảnh ký ức về đồng đội. Bởi thời gian không chờ đợi ai.
Qua lăng kính của người đã đi qua chiến tranh, từng chứng kiến những mất mát lớn lao của lớp lớp những người đã hy sinh, ông Nguyễn Quang Hòa - Ủy viên BCH Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam Nam phường, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Hà Đông chia sẻ, những người trực tiếp chứng kiến chiến tranh ngày một già đi. Mỗi ký ức chưa kịp ghi lại đều có thể là một manh mối mất đi vĩnh viễn. Vì thế, việc lắng nghe, ghi chép và kết nối những ký ức ấy không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn, mà còn là trách nhiệm của mỗi cựu chiến binh, của toàn xã hội đối với những người đã hiến dâng tuổi xuân cho độc lập, tự do của dân tộc. Mỗi nỗ lực của mỗi cựu chiến binh là những đóng góp âm thầm nhưng đầy ý nghĩa, đầy tinh thần trách nhiệm để ngày càng nhiều gia đình được trọn vẹn tâm nguyện đưa liệt sỹ về với quê hương, gia đình…
Có những cuộc hành quân đã kết thúc từ Chiến dịch Mùa xuân năm 1975. Nhưng cũng có những “cuộc hành quân” vẫn đang tiếp tục. Đó là hành trình đưa các anh trở về với tên tuổi, với gia đình, với quê hương sau hơn nửa thế kỷ xa cách.
Và chừng nào vẫn còn một liệt sĩ chưa được gọi đúng tên, chưa được trở về trong vòng tay người thân thì hành trình ấy vẫn chưa thể khép lại. Đó không chỉ là mệnh lệnh của một chiến dịch mang tầm vóc quốc gia, mà còn là sự tiếp nối bền bỉ của đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", là lời tri ân sâu nặng của các thế hệ hôm nay đối với những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.