Nắm hàng nghìn tỷ đồng, vì sao doanh nghiệp Nhà nước vẫn khó tăng trưởng?
Mặc dù đang nắm giữ khối tài sản và nguồn vốn rất lớn trong nhiều lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, không ít doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) vẫn tăng trưởng chậm, hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng. Theo các chuyên gia và nhà quản lý, vấn đề không đơn thuần nằm ở năng lực của doanh nghiệp mà còn xuất phát từ cơ chế quản trị, quyền tự chủ đối với tài sản và cách xác định vai trò của DNNN trong nền kinh tế.
Đây là nội dung được nhiều đại biểu trao đổi tại Hội thảo "Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước: Từ sắp xếp nguồn lực đến dẫn dắt tăng trưởng" do Báo Tiền Phong tổ chức ngày 21-7.
Nắm nguồn lực lớn nhưng chưa tạo được động lực tăng trưởng
Sau gần 40 năm đổi mới, số lượng DNNN đã giảm mạnh, song khu vực này vẫn nắm giữ phần lớn nguồn lực tại nhiều ngành, lĩnh vực then chốt như năng lượng, hạ tầng, tài nguyên, lương thực hay tài chính.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, DNNN tiếp tục được kỳ vọng đóng vai trò "đầu tàu", dẫn dắt đầu tư và mở đường cho những lĩnh vực chiến lược. Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng xác định rõ yêu cầu tiếp tục cơ cấu lại DNNN theo hướng tinh gọn, hiệu quả, nâng cao năng lực quản trị và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Tuy nhiên, tiến độ tái cơ cấu vẫn khá chậm.
Theo Bộ Tài chính, giai đoạn 2021-2025 cả nước mới cổ phần hóa được 5 doanh nghiệp với tổng giá trị khoảng 643 tỷ đồng. Trong số 146 doanh nghiệp thuộc diện phải thoái vốn, mới chỉ có 19 doanh nghiệp hoàn thành, tương đương khoảng 13% kế hoạch. Đối với sắp xếp doanh nghiệp, trong 8 doanh nghiệp được phê duyệt phương án, mới có 6 đơn vị hoàn thành sáp nhập, 2 doanh nghiệp đang giải thể.
Những con số này phản ánh quá trình tái cơ cấu vẫn đang gặp nhiều điểm nghẽn cả về thể chế, cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện.
Theo ông Bùi Khắc Hiền, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, vấn đề cốt lõi của tái cơ cấu DNNN không phải là cổ phần hóa nhanh hay chậm mà là nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp. Ông cho rằng nhiều năm qua, việc đánh giá tái cơ cấu thường quá tập trung vào mục tiêu cổ phần hóa, trong khi yếu tố quan trọng nhất lại là doanh nghiệp có được vận hành theo cơ chế quản trị hiện đại hay không. "Nếu cứ đặt ra tiêu chí nhất nhất phải cổ phần hóa mà không tạo được năng lực quản trị tương xứng thì cũng chưa đạt mục tiêu", ông nói.

Theo ông Hiền, hiện nay Nhà nước đã chuyển trọng tâm sang nâng cao quản trị, trong đó tăng cường vai trò của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) như một đơn vị quản lý vốn chuyên nghiệp.
Tuy nhiên, một nghịch lý vẫn tồn tại là DNNN được giao quản lý lượng tài sản rất lớn nhưng lại không có đầy đủ quyền đối với chính tài sản đó.
"Nhiều doanh nghiệp nắm trong tay hàng nghìn tỷ đồng nhưng không thể tăng trưởng vì họ không có quyền tự quyết, không được xoay xở trên những đồng vốn và tài sản đó", ông Hiền nhấn mạnh.
Theo ông, nhiều loại tài sản như đất đai, hạ tầng được giao quản lý nhưng doanh nghiệp không thể chủ động sử dụng làm tài sản bảo đảm, không thể linh hoạt huy động vốn hay tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh. "Nếu coi đất đai, cơ sở hạ tầng là vốn thì phải cho doanh nghiệp quyền kinh doanh trên nguồn lực đó. Còn nếu chỉ giao để vận hành thì không thể tính đó là nguồn vốn rồi yêu cầu doanh nghiệp phải tăng trưởng", ông phân tích.
Tái cơ cấu DNNN gặp khó do cả thị trường lẫn thể chế
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Vũ Hoan, Thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Lương thực miền Bắc (VINAFOOD1) cho biết, quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do cả yếu tố thị trường lẫn thể chế.

Theo ông, đặc thù ngành lương thực có biên lợi nhuận rất thấp. Có thời điểm bán một kg gạo doanh nghiệp chỉ lãi khoảng 50 đồng. Trong khi đó, nhiều công ty thành viên chỉ có quy mô vốn từ 5-10 tỷ đồng, rất khó thu hút nhà đầu tư chiến lược.
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất là các vấn đề liên quan đến đất đai và hồ sơ pháp lý kéo dài nhiều năm, khiến việc định giá doanh nghiệp cũng như xử lý tài sản bị đình trệ.
"Công tác thoái vốn nhiều lần tổ chức đấu giá nhưng không có nhà đầu tư tham gia vì các doanh nghiệp trong lĩnh vực lương thực, muối hay bao bì không thực sự hấp dẫn", ông Hoan cho biết.
Ngoài ra, sự chồng chéo giữa các quy định về đất đai, đầu tư và quản lý vốn nhà nước cũng khiến quá trình tái cơ cấu kéo dài hơn dự kiến.
Tuy nhiên, theo lãnh đạo VINAFOOD1, vẫn có những mô hình thành công nếu doanh nghiệp được trao cơ chế phù hợp.
Điển hình là Công ty Lương thực Phương Đông liên doanh với Tập đoàn Louis Dreyfus. Doanh nghiệp này tăng vốn hoàn toàn từ lợi nhuận để lại và hiện nằm trong nhóm doanh nghiệp xuất khẩu gạo hàng đầu Việt Nam. Tương tự, Công ty Bột mì Cái Lân hay liên doanh Hakumatsu trong lĩnh vực muối cũng hoạt động hiệu quả.
Từ thực tiễn này, VINAFOOD1 kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý vốn nhà nước, tháo gỡ các vướng mắc về đất đai, đa dạng hóa phương thức thoái vốn, tăng cường phân cấp gắn với hậu kiểm và xây dựng bộ tiêu chí đánh giá DNNN dựa trên hiệu quả sử dụng vốn, đổi mới sáng tạo và đóng góp cho tăng trưởng thay vì chỉ nhìn vào lợi nhuận ngắn hạn.
Ở góc độ hoạch định chính sách, bà Đoàn Thị Kim Dung, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cần thay đổi cách tiếp cận đối với quá trình tái cơ cấu DNNN. Theo bà, đây không đơn thuần là quá trình giảm số lượng doanh nghiệp hay cổ phần hóa một cách cơ học, mà trước hết phải xác định đúng vai trò của DNNN trong tổng thể nền kinh tế nhà nước.
Các ý kiến tại hội thảo cho thấy bài toán của DNNN hiện nay không còn là câu chuyện sở hữu bao nhiêu tài sản, mà là khả năng biến những tài sản đó thành động lực tăng trưởng.
Khi doanh nghiệp được giao nguồn lực nhưng thiếu quyền tự chủ, cơ chế quản trị chưa theo kịp yêu cầu thị trường và hệ thống pháp luật còn nhiều chồng chéo, thì khối tài sản hàng nghìn tỷ đồng vẫn có thể trở thành nguồn lực "đóng băng".
Muốn DNNN thực sự đóng vai trò dẫn dắt nền kinh tế như kỳ vọng của Nghị quyết 79-NQ/TW, quá trình tái cơ cấu cần chuyển trọng tâm từ việc chỉ sắp xếp lại số lượng doanh nghiệp sang cải cách quản trị, trao quyền gắn với trách nhiệm và sử dụng hiệu quả nguồn lực Nhà nước. Chỉ khi đó, những khối tài sản lớn mới có thể được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.