Khoa học công nghệ - Động lực phát triển mới của Hà Nội
Hà Nội từ lâu đã được biết đến là trung tâm giáo dục, khoa học và công nghệ lớn nhất cả nước. Trên địa bàn Thủ đô hiện có hàng trăm trường đại học, học viện, viện nghiên cứu cùng đội ngũ đông đảo nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành.

Báo cáo tổng kết 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết 57) cho thấy, Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu trong việc hoàn thiện cơ chế, tăng đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là làm thế nào để lợi thế về tri thức, con người và hệ thống đại học thực sự trở thành động lực phát triển mới của Thủ đô.
Để góp phần làm sáng tỏ nội dung trên, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện Chương trình Hà Nội chuyển động với chủ đề: “Khoa học công nghệ - Động lực phát triển mới của Hà Nội”. Chương trình được phát trực tiếp trên các Kênh H1, Fm90, Fm96, Báo điện tử Hànộimới và các nền tảng số từ 19-20h hôm nay, 17-7.

Tham gia trao đổi tại Chương trình, hai khách mời: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cùng chia sẻ, nhìn nhận những cơ hội, thách thức và giải pháp để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực tăng trưởng, góp phần xây dựng Thủ đô phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Khoa học, công nghệ mở ra sứ mệnh mới cho các trường đại học
Nếu trước đây đại học được biết đến chủ yếu với hai nhiệm vụ là đào tạo và nghiên cứu thì trong bối cảnh hiện nay, khi khoa học công nghệ được xác định là động lực phát triển, vai trò của trường đại học đã có rất nhiều thay đổi.

Cùng trao đổi về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ (PGS.TS) Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng: Trước đây trường đại học chủ yếu được nhìn nhận là nơi đào tạo nguồn nhân lực cho quốc gia, tuy nhiên hiện nay vai trò đó đã mở rộng rất nhiều. Đại học không chỉ đào tạo mà còn là trung tâm nghiên cứu, sản sinh và lan tỏa tri thức, đồng thời dẫn dắt đổi mới sáng tạo.
“Trong thế kỷ XXI, khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành nền tảng cạnh tranh quốc gia, đặc biệt trong các lĩnh vực AI, chuyển đổi số hay công nghệ chiến lược, các trường đại học giữ vai trò quan trọng. Quốc gia nào sở hữu những trung tâm nghiên cứu mạnh, làm chủ công nghệ lõi sẽ có lợi thế dẫn dắt các chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, đại học không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn trở thành động lực phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới”, PGS.TS Trương Ngọc Kiểm cho biết.
Trong khi đó, PGS.TS Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội bổ sung một góc nhìn khác: Trường đại học trước đây được ví như “tháp ngà” mang hàm ý tách biệt với đời sống xã hội. Nhưng ngày nay, ranh giới đó gần như không còn. Trường đại học đã gắn kết chặt chẽ với cộng đồng, với doanh nghiệp và với các cơ quan quản lý. Bên cạnh đào tạo và nghiên cứu, đại học còn là trung tâm đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và phục vụ cộng đồng. Hoạt động nghiên cứu cũng đã thay đổi, không chỉ dừng ở nghiên cứu cơ bản hay hàn lâm mà còn hướng mạnh đến nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

“Đào tạo cũng không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn chú trọng hình thành những sinh viên năng động, sáng tạo, có tư duy khởi nghiệp và khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn. Đồng thời, trường đại học còn là nơi cung cấp tri thức, tư vấn chính sách và giải quyết những bài toán lớn cho Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Đối với Trường Đại học Khoa học tự nhiên, chúng tôi xác định ba sứ mệnh trọng tâm: Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”, PGS.TS Trần Quốc Bình nhấn mạnh.
Vai trò cốt lõi của trung tâm đổi mới sáng tạo trong đại học
Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển. Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, trong mục tiêu đó, các trung tâm chuyển giao tri thức và đổi mới sáng tạo của các trường đại học sẽ có vai trò quan trọng.

PGS.TS Trương Ngọc Kiểm cho biết: Nghị quyết 57-NQ/TW xác định đại học không chỉ là trung tâm đào tạo, mà phải là trung tâm khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ cộng đồng. Hiện nay, khoảng cách giữa nghiên cứu trong nhà trường với thực tiễn thị trường tại Việt Nam còn khá xa so với các quốc gia phát triển tại châu Á. Để đại học trở thành động lực tăng trưởng và dẫn dắt nền khoa học quốc gia, giải pháp then chốt là đẩy mạnh hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Trong mô hình này, các Trung tâm Chuyển giao tri thức và Đổi mới sáng tạo đóng vai trò hạt nhân với ba chức năng chính: Gắn kết nhà trường với doanh nghiệp, đưa bài toán thực tiễn vào nghiên cứu và kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia; thúc đẩy đăng ký sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, đưa sản phẩm nghiên cứu ứng dụng vào giải quyết các vấn đề dân sinh, xã hội; đóng vai trò "xương sống" thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển khoa học - công nghệ.
Kinh nghiệm từ các đại học hàng đầu thế giới như MIT, Stanford (Mỹ), Thanh Hoa (Trung Quốc) hay NUS (Singapore) cho thấy trung tâm đổi mới sáng tạo chính là nền tảng cốt lõi để thu hẹp khoảng cách giữa nhà trường và thị trường.
Khoa học cơ bản là nền tảng của đổi mới sáng tạo
PGS.TS Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, để dễ hình dung, có thể ví công nghệ và kỹ thuật như một cái cây, còn khoa học cơ bản chính là bộ rễ. Muốn cây phát triển xanh tốt thì bộ rễ phải hấp thụ chất dinh dưỡng và đủ vững chắc để cây đứng vững trước mưa bão. Khoa học cơ bản cũng giữ vai trò như vậy đối với sự phát triển công nghệ.

Hiện nay, Hà Nội cũng như cả nước đang đẩy mạnh các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn hay công nghệ số. Tuy nhiên, tất cả đều được xây dựng trên nền tảng khoa học cơ bản. Chẳng hạn, AI không thể phát triển nếu thiếu nền tảng toán học; còn công nghệ bán dẫn đòi hỏi kiến thức sâu về vật lý lượng tử và khoa học vật liệu. Đơn cử với bài toán ngập lụt đô thị, giải pháp không chỉ là xây dựng hệ thống thoát nước. Muốn xử lý hiệu quả phải dự báo lượng mưa, nghiên cứu khí tượng thủy văn, phân tích địa hình, địa mạo, dòng chảy, cũng như khả năng thẩm thấu của đất và vật liệu. Tất cả đều là những lĩnh vực của khoa học cơ bản.
“Một ví dụ khác là đại dịch COVID-19. Vaccine được phát triển rất nhanh, nhưng thành công đó không phải bắt đầu từ thời điểm dịch bùng phát mà dựa trên hàng chục năm nghiên cứu cơ bản về sinh học phân tử, cấu trúc protein của virus và công nghệ nano. Chính nền tảng khoa học tích lũy từ trước đã giúp thế giới rút ngắn đáng kể thời gian nghiên cứu và sản xuất vaccine. Có thể nói, xã hội thường chỉ nhìn thấy “phần ngọn” là những sản phẩm công nghệ, trong khi “bộ rễ” - tức khoa học cơ bản - lại ít được chú ý. Tôi kỳ vọng với những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, vai trò của khoa học cơ bản sẽ được nhìn nhận đúng hơn, được đầu tư mạnh mẽ hơn để tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai”, PGS.TS Trần Quốc Bình cho biết.
Đổi mới tư duy quản trị trong đại học để đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Một trong những yêu cầu hiện nay là các kết quả nghiên cứu phải tạo ra sản phẩm và giá trị thực tiễn. Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, các trường đại học cần thay đổi tư duy quản trị hoạt động khoa học công nghệ để đáp ứng yêu cầu này.

PGS.TS Trương Ngọc Kiểm khẳng định, để đáp ứng sứ mệnh mà Nghị quyết 57-NQ/TW đề ra, các trường đại học cần thay đổi căn bản tư duy quản trị khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo qua 4 chuyển dịch trọng tâm:
(1) Chuyển từ quản trị đầu vào sang quản trị đầu ra: Thay vì đánh giá thành công bằng số lượng bài báo hay đề tài, nhà trường cần đo đếm giá trị thực tiễn: Khả năng ứng dụng, doanh thu, lợi nhuận tạo ra, đóng góp ngân sách và số doanh nghiệp đổi mới sáng tạo xuất phát từ đại học. Quản trị nghiên cứu cần linh hoạt theo danh mục (từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đến các dự án mạo hiểm nhưng bứt phá).
(2) Đưa doanh nghiệp vào ngay từ khâu đặt bài toán: Thay vì nghiên cứu xong mới tìm nơi ứng dụng, nhà trường cần kết nối doanh nghiệp ngay từ đầu để xác định rõ nhu cầu thị trường, bảo đảm sản phẩm thương mại hóa thành công.
(3) Đổi mới tiêu chí đánh giá giảng viên: Bên cạnh hoạt động giảng dạy và bài báo khoa học, cần bổ sung các chỉ số về chuyển giao công nghệ, thương mại hóa, khởi nghiệp nhằm giải phóng sức sáng tạo và khuyến khích nhà khoa học dấn thân.
(4) Thúc đẩy vai trò "CEO" của Hiệu trưởng và hoàn thiện hệ sinh thái: Hoàn thiện hạ tầng gồm văn phòng chuyển giao công nghệ (TLO), vườn ươm, quỹ đầu tư mạo hiểm... Hiệu trưởng không chỉ quản trị chuyên môn mà còn đóng vai trò như CEO - kết nối hệ sinh thái, thu hút nguồn lực và xúc tiến hợp tác địa phương, doanh nghiệp.
Sự chuyển dịch này giúp đại học không chỉ là nơi sản sinh tri thức mà trở thành nơi chuyển hóa tri thức thành giá trị thiết thực cho xã hội.
Đại học đẩy mạnh nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn
Trường Đại học Khoa học tự nhiên từ lâu được biết đến là một trong những cơ sở hàng đầu cả nước về khoa học cơ bản. Tuy nhiên, PGS.TS Trần Quốc Bình cho biết, trường không giới hạn hoạt động của mình ở lĩnh vực này mà luôn định hướng mở rộng nghiên cứu và đào tạo để đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển của đất nước.

Đặc biệt, PGS.TS Trần Quốc Bình đưa ra ba nhóm giải pháp chính mà Trường Đại học Khoa học tự nhiên đang tập trung:
Thứ nhất là đẩy mạnh nghiên cứu theo nhu cầu thực tiễn. Thay vì các nhà khoa học tự đề xuất đề tài rồi tìm doanh nghiệp chuyển giao, chúng tôi chủ động mời doanh nghiệp tham gia, đặt hàng trực tiếp những bài toán cần giải quyết. Gần đây, với sự hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ, nhà trường đã triển khai nhiều đề tài lớn, như nghiên cứu hoạt tính của nước khoáng Lam Đồng cho doanh nghiệp hay tối ưu hóa hệ thống logistics, kho bãi và vận chuyển cho các nhà máy sản xuất. Điều quan trọng không chỉ là nguồn kinh phí mà là cơ hội để các nhà khoa học giải quyết những vấn đề thực tiễn, từ đó nâng cao năng lực nghiên cứu ứng dụng.
Thứ hai là kéo dài chuỗi giá trị của kết quả nghiên cứu. Nếu trước đây nghiên cứu cơ bản thường dừng ở mức độ sẵn sàng công nghệ (TRL) 1-2, thì hiện nay chúng tôi hướng tới nâng lên TRL 4-5, tức là đưa kết quả nghiên cứu đến gần hơn với giai đoạn phát triển sản phẩm và thương mại hóa.
Thứ ba là thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trong sinh viên. Quy mô các chương trình nghiên cứu sinh viên của trường đã tăng hơn gấp đôi trong những năm gần đây. Chúng tôi mong muốn sinh viên không chỉ là người học mà còn trở thành trợ lý nghiên cứu, trợ lý đổi mới sáng tạo của các giảng viên, đồng thời hình thành tư duy khởi nghiệp và năng lực tự tạo việc làm trong tương lai.
Hà Nội - Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lớn nhất cả nước
Hai vị khách mời đã chia sẻ quan điểm về lợi thế lớn nhất của Hà Nội trong phát triển khoa học công nghệ hiện nay, cũng như phân tích những lợi thế riêng có của Hà Nội mà các địa phương khác khó có được.

PGS.TS Trương Ngọc Kiểm cho rằng, Hà Nội là nơi có mật độ các trường đại học hàng đầu (như Đại học Quốc gia Hà Nội), các viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm và đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đông đảo nhất cả nước. Hà Nội cũng có môi trường thử nghiệm và chính sách đột phá. Nơi đây hội tụ các cơ quan trung ương cùng hệ thống doanh nghiệp lớn, tạo lợi thế đặc biệt để xây dựng các cơ chế, chính sách thử nghiệm (sandbox) cho công nghệ mới.
Sự gắn kết giữa Đại học Quốc gia Hà Nội và Khu công nghệ cao Hòa Lạc trong tầm nhìn phát triển đô thị phía Tây Hà Nội sẽ tạo nên cực tăng trưởng mới dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo - một lợi thế cạnh tranh đột phá.
Còn PGS.TS Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định: Hà Nội không chỉ là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế mà còn sở hữu một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo rất hoàn chỉnh.
Lợi thế về khoảng cách địa lý giúp các nhà khoa học, doanh nhân có thể đồng thời tham gia giảng dạy, dự triển lãm công nghệ, làm việc với doanh nghiệp và thuyết phục đầu tư cho dự án chỉ trong cùng một ngày - điều hiếm địa phương nào đáp ứng được. Nói cách khác, với tiềm lực tri thức, hạ tầng chính sách và hệ sinh thái kết nối toàn diện, Hà Nội sở hữu nền tảng hoàn hảo để trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu, dẫn dắt sự phát triển khoa học - công nghệ của cả nước.
Đại học đổi mới sáng tạo là xu hướng tất yếu
PGS.TS Trương Quốc Bình cho biết, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc các trường đại học chuyển đổi thành đại học đổi mới sáng tạo không còn là một lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu. Thay đổi lớn nhất là trường đại học không chỉ còn là nơi truyền bá tri thức mà trở thành nơi kiến tạo, sản sinh những tri thức mới để phục vụ xã hội và cộng đồng. Bên cạnh đó, thước đo thành công của một trường đại học cũng đang thay đổi.
“Trước đây, người ta thường đánh giá qua số lượng sinh viên hay tiến sĩ. Ngày nay, những chỉ số quan trọng hơn là trường đã tạo ra bao nhiêu doanh nghiệp khởi nghiệp, bao nhiêu kết quả nghiên cứu được chuyển giao, bao nhiêu công nghệ và sản phẩm được ứng dụng vào thực tiễn. Tôi cũng kỳ vọng trong khoảng 20 năm tới, các trường đại học sẽ trở thành nơi đặt các trung tâm nghiên cứu và phát triển của những doanh nghiệp lớn. Khi đó, trường đại học sẽ là một bộ phận hữu cơ trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp để tạo ra các công nghệ và sản phẩm mới”, PGS.TS Trương Quốc Bình nhấn mạnh.
Trong khi đó, PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, hiện nay Việt Nam đang phát triển nhiều mô hình đại học như đại học nghiên cứu, đại học đổi mới sáng tạo và đại học ứng dụng. Mỗi mô hình có một sứ mệnh riêng. Như Trường Đại học Khoa học Tự nhiên là cơ sở hàng đầu về nghiên cứu khoa học cơ bản. Tuy nhiên, theo định hướng chung, ngay cả những trường có thế mạnh nghiên cứu cơ bản cũng cần phát triển theo mô hình đại học tinh hoa, nghĩa là vừa duy trì năng lực nghiên cứu ở trình độ cao, vừa gắn chặt với nhu cầu phát triển của đất nước và xã hội.
Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu cần sẵn sàng chuyển giao, thương mại hóa, biến tri thức thành giá trị kinh tế, biến các công trình khoa học thành sản phẩm, giải pháp phục vụ sản xuất và đời sống. Khi đó, trường đại học không còn là một “tháp ngà” tách biệt mà trở thành trung tâm kết nối giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng. Trong mô hình này, nhà khoa học không chỉ là người nghiên cứu hay giảng dạy mà còn có thể là doanh nhân, chuyên gia tư vấn, trực tiếp đồng hành với doanh nghiệp, địa phương và người dân để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Đây là xu hướng tất yếu và cũng là động lực quan trọng để thúc đẩy sự phát triển bền vững của Thủ đô cũng như của cả nước.
Con người và thể chế: Hai trụ cột đột phá khoa học công nghệ Thủ đô
Trong cuộc trao đổi về phát triển khoa học - công nghệ của Hà Nội, hai khách mời là PGS.TS Trần Quốc Bình và PGS.TS Trương Ngọc Kiểm đã chia sẻ góc nhìn sâu sắc về yếu tố then chốt và điều kiện cần để Hà Nội bứt phá trong giai đoạn mới.
Theo PGS.TS Trần Quốc Bình, con người là yếu tố quyết định nhất. Dù có công nghệ, cơ sở vật chất hay phòng thí nghiệm hiện đại đến đâu, nếu không có con người thì tất cả đều vô giá trị.
Hà Nội sở hữu nguồn lực trí tuệ chất lượng cao nhờ tập trung mật độ lớn các trường đại học và viện nghiên cứu hàng đầu. Lực lượng học sinh, sinh viên đông đảo chính là "nguồn máu mới" liên tục bổ sung, cập nhật trí thức cho lực lượng khoa học - công nghệ.
Điều quan trọng nhất hiện nay là xây dựng được cơ chế khai thác, phát huy triệt để tiềm năng con người. Khi giải phóng được sức sáng tạo này, Hà Nội sẽ có một động lực và sức bật mới vô cùng mạnh mẽ.
Còn PGS.TS Trương Ngọc Kiểm nhấn mạnh yếu tố thể chế cởi mở và hệ sinh thái đủ mạnh của Hà Nội. Bên cạnh nhân tố con người, điều quyết định là làm sao biến tri thức của đội ngũ chuyên gia thành giá trị thực tiễn phục vụ sự phát triển của Thủ đô.
Yêu cầu đặt ra là cần một thể chế "đủ mở", khơi thông và kết nối các nguồn lực sẵn có thông qua cơ chế thử nghiệm (sandbox) hiệu quả. Đồng thời, tăng cường quyền tự chủ cho các trường đại học; đẩy mạnh cơ chế doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu. Có chính sách chấp nhận rủi ro và bảo vệ an toàn cho nhà khoa học khi thực hiện nghiên cứu sáng tạo.
Khi thể chế được khơi thông, doanh nghiệp sẽ chủ động tìm đến nhà trường. Hệ sinh thái kết nối chặt chẽ sẽ giúp các sản phẩm khoa học - công nghệ tạo ra sức bật lớn, thúc đẩy Hà Nội phát triển đột phá trong kỷ nguyên mới.
Ý kiến của hai khách mời hợp thành một góc nhìn toàn diện: Con người là nền tảng cốt lõi, còn Thể chế và Hệ sinh thái chính là đòn bẩy để đưa khoa học - công nghệ Hà Nội phát triển xứng tầm.

Doanh nghiệp chủ động đặt hàng nghiên cứu, rút ngắn khoảng cách với thị trường
Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam đang có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa.

Điểm thay đổi quan trọng nhất là sự chuyển biến trong tư duy phát triển khoa học và công nghệ. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là tạo ra sản phẩm nghiên cứu, thì hiện nay mục tiêu được hướng đến là giá trị mà sản phẩm mang lại và khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Giai đoạn 2025-2026 cũng ghi nhận bước tiến lớn khi hệ thống thể chế, chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa.
Một điểm nhấn khác là sự tham gia ngày càng sâu của doanh nghiệp. Thay vì chờ đợi các trường đại học công bố kết quả nghiên cứu để tiếp nhận ứng dụng, nhiều doanh nghiệp đã chủ động đặt hàng các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu giải quyết những bài toán thực tiễn. Các doanh nghiệp không chỉ đưa ra nhu cầu mà còn cùng đầu tư, phối hợp nghiên cứu và đồng hành trong quá trình thương mại hóa sản phẩm.
PGS.TS Trương Ngọc Kiểm cũng cho hay, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cũng đang dần hoàn thiện. Nhiều trường đại học đã chuyển từ mô hình chỉ tập trung nghiên cứu sang chú trọng chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp (start-up), doanh nghiệp được thành lập để thương mại hóa kết quả nghiên cứu (spin-off) và mở rộng hợp tác quốc tế. Dù vậy, đây mới chỉ là những kết quả ban đầu.
Để khoảng cách giữa nhà trường và thị trường tiếp tục được thu hẹp, cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống thể chế, đồng thời phát triển các tổ chức trung gian như trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm doanh nghiệp và các trung tâm chuyển giao tri thức. Đây sẽ là những mắt xích quan trọng giúp kết nối các thành phần trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Thúc đẩy đồng kiến tạo để bứt phá trong kỷ nguyên AI
PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, người trực tiếp phụ trách hoạt động chuyển giao tri thức và hỗ trợ khởi nghiệp của Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, có nhiều nguyên nhân khiến doanh nghiệp ngày càng chủ động tìm đến các trường đại học.

Trước hết, trong giai đoạn trước, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tận dụng lợi thế về nhân công giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), các lợi thế truyền thống dần suy giảm. Điều này buộc doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, tối ưu hóa hoạt động sản xuất, từ đó tìm đến các trường đại học như nguồn cung tri thức và công nghệ.
Thứ hai, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng khiến doanh nghiệp không thể đứng ngoài quá trình đổi mới sáng tạo. Đồng thời, bản thân các trường đại học cũng có sự chuyển biến trong tư duy, từ chỗ “khoa học vị khoa học” sang định hướng gắn kết chặt chẽ hơn với thực tiễn, phục vụ nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp.
Thứ ba, hệ thống chính sách, thể chế của Việt Nam đã có nhiều thay đổi tích cực, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, các chủ trương như Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã góp phần khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, những thay đổi này đã mở ra cơ hội để hai bên không chỉ dừng lại ở quan hệ mua - bán sản phẩm công nghệ, mà còn tiến tới đồng kiến tạo, cùng đầu tư, cùng nghiên cứu và chia sẻ lợi ích trên cơ sở hợp tác bền vững.
Hợp tác giữa doanh nghiệp và trường đại học ngày càng thực chất hơn
Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, xu hướng doanh nghiệp chủ động tìm đến các trường đại học, cơ sở nghiên cứu xuất phát từ yêu cầu cấp thiết phải đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI).

PGS.TS Trương Ngọc Kiểm cho rằng, trước đây nhiều doanh nghiệp Việt Nam phát triển dựa trên lợi thế nhân công giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, những lợi thế này đang dần mất đi, buộc doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất và mô hình quản trị nhằm tối ưu hóa hoạt động, tạo ra giá trị gia tăng và nâng cao sức cạnh tranh. Vì vậy, các trường đại học và viện nghiên cứu trở thành đối tác quan trọng trong việc cung cấp công nghệ, giải pháp cũng như kết quả nghiên cứu phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh đó, các trường đại học cũng đã thay đổi tư duy, chuyển từ nghiên cứu thuần túy sang định hướng nghiên cứu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và cộng đồng. Điều này mở ra nhiều hình thức hợp tác thực chất hơn giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Đáng chú ý, mô hình hợp tác hiện nay không còn dừng ở việc doanh nghiệp mua kết quả nghiên cứu của trường đại học, mà chuyển sang cơ chế đồng kiến tạo. Doanh nghiệp cùng đầu tư, cùng nghiên cứu, cùng thương mại hóa và cùng sở hữu kết quả nghiên cứu với nhà trường trên cơ sở chia sẻ lợi ích. Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, đây là xu hướng tích cực, hứa hẹn tạo động lực mới cho sự phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
Định vị hệ sinh thái đổi mới sáng tạo từ thể chế mở

Để Hà Nội trở thành điểm đến của các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), doanh nghiệp công nghệ và start-up đổi mới sáng tạo, PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, Hà Nội cần một thể chế đủ mở và một hệ sinh thái đủ mạnh, trong đó doanh nghiệp và nhà trường cùng “đồng kiến tạo” giá trị.
Hà Nội đang đứng trước vận hội lớn để vươn lên trở thành trung tâm tri thức và công nghệ hàng đầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, điều kiện tiên quyết không chỉ nằm ở nguồn lực, mà còn ở một thể chế linh hoạt, có khả năng giải phóng sức sáng tạo của đội ngũ khoa học.
PGS.TS Trương Ngọc Kiểm phân tích, thể chế mở chính là chìa khóa để các tổ chức R&D cùng các chuyên gia tại viện, trường phát huy tối đa năng lực. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), doanh nghiệp buộc phải đổi mới, tối ưu hóa công nghệ và chủ động tìm đến các trường đại học như nguồn cung tri thức.
Tuy nhiên, hỗ trợ khoa học - công nghệ không thể chỉ dừng lại ở tài chính. Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, điều quan trọng hơn là xây dựng một môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, với hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại và đội ngũ nhân sự hỗ trợ đồng bộ.
Trong cấu trúc hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, các khu công nghệ cao như Hòa Lạc được xem là hạt nhân quan trọng. Đây là nơi hội tụ giữa các trường đại học đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp công nghệ.
Khi khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất được thu hẹp, cùng với cơ chế linh hoạt từ chính quyền, không gian phát triển cho đổi mới sáng tạo sẽ được mở rộng.

Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, mối quan hệ “ba nhà” (Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp) cần được vận hành trên nguyên tắc Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, điều phối, còn nhà trường và doanh nghiệp là trung tâm. Sự hợp tác này chỉ thực sự hiệu quả khi dựa trên tinh thần tự nguyện và lợi ích chung.
Hiện nay, việc Nhà nước định vị các công nghệ chiến lược và sản phẩm chủ lực đã tạo ra “đích đến chung” cho các bên. Đặc biệt, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị được xem là bước ngoặt quan trọng, góp phần hoàn thiện thể chế, mở đường cho các cơ chế đột phá và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển mạnh mẽ hơn.
Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, với sự cộng hưởng của thể chế mở, chính sách dẫn dắt và tinh thần đồng kiến tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, Hà Nội hoàn toàn có cơ sở để bứt phá, từng bước khẳng định vị thế trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực và cả nước.
Cú hích thúc đẩy đại học chuyển sang mô hình đổi mới sáng tạo
Theo các chuyên gia, đổi mới sáng tạo là xu thế tất yếu của giáo dục đại học. PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, Nghị quyết số 57-NQ/TW là "cú hích" chưa từng có đối với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chưa bao giờ lĩnh vực này nhận được sự quan tâm lớn như hiện nay, với sự chỉ đạo quyết liệt từ Trung ương đến địa phương và người đứng đầu các cấp.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là giải pháp chiến lược để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số và trở thành quốc gia phát triển. Cùng với Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo nền tảng thuận lợi để các trường đại học phát triển theo định hướng đổi mới sáng tạo và xây dựng mô hình đại học tinh hoa.
PGS.TS Trương Ngọc Kiểm nhận định, nếu không có những chính sách mang tính đột phá này, quá trình đổi mới vẫn sẽ diễn ra nhưng với tốc độ chậm hơn và cần nhiều thời gian hơn để đạt được các mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Đồng quan điểm, PGS.TS Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, đổi mới sáng tạo là xu hướng tất yếu, song Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo động lực mạnh mẽ để các cơ sở giáo dục đại học chuyển đổi nhanh hơn. Theo đó, Nghị quyết đã tháo gỡ ba "điểm nghẽn" lớn đối với hoạt động khoa học và đổi mới sáng tạo. Trước hết là cơ chế về sở hữu trí tuệ và tài sản công, giúp các trường đại học và viện nghiên cứu chủ động hơn trong quản lý, khai thác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thay vì phải trải qua quy trình định giá, thủ tục phức tạp như trước đây.
Bên cạnh đó, tư duy quản lý cũng có sự thay đổi rõ nét, từ quản lý theo hướng kiểm soát sang kiến tạo phát triển. Đặc biệt, theo PGS.TS Trần Quốc Bình, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã góp phần định hình lại sứ mệnh của các trường đại học. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là đào tạo và nghiên cứu hàn lâm, thì nay các trường hướng mạnh hơn đến việc giải quyết các vấn đề thực tiễn của đất nước và địa phương. Thành công của một cơ sở giáo dục đại học không chỉ được đo bằng số lượng công bố khoa học mà còn ở khả năng tạo ra các giải pháp, công nghệ và sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Các chuyên gia đều cho rằng, với những thay đổi về thể chế, cơ chế quản lý và định hướng phát triển, Nghị quyết số 57-NQ/TW đang tạo động lực quan trọng để hệ thống giáo dục đại học Việt Nam chuyển dịch từ mô hình nghiên cứu truyền thống sang mô hình đại học đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp và nhu cầu phát triển của đất nước.
Nghị định số 179/2026/NĐ-CP tạo động lực để thí sinh lựa chọn các ngành STEM

Theo PGS.TS Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nghị định số 179/2026/NĐ-CP được ban hành đúng thời điểm, thể hiện cam kết và định hướng của Nhà nước đối với đào tạo các ngành STEM.
Ông Trần Quốc Bình cho biết, theo thông tin mới nhất, năm nay cả nước có gần 500.000 thí sinh đăng ký vào các ngành STEM, chiếm hơn một nửa tổng số thí sinh đăng ký xét tuyển đại học. Riêng Trường Đại học Khoa học tự nhiên, nơi tất cả các ngành đào tạo đều thuộc lĩnh vực STEM, số lượng thí sinh đăng ký tăng 6% so với năm 2025. Đây là tín hiệu rất phấn khởi. Theo ông, không chỉ số lượng mà chất lượng thí sinh lựa chọn các ngành STEM cũng sẽ có sự thay đổi mạnh mẽ trong thời gian tới.
Theo PGS.TS Trần Quốc Bình, cùng với định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW và nhiều văn bản khác, nhận thức của xã hội về vai trò của STEM đang có sự chuyển dịch rõ rệt. Muốn phát triển đột phá phải dựa trên nền tảng STEM, bởi các công nghệ và những lĩnh vực tạo ra đột phá đều xuất phát từ nền tảng này. Bên cạnh đó, cơ hội việc làm rộng mở cũng là nguyên nhân khiến ngày càng nhiều thí sinh quan tâm đến các ngành STEM.
Đón xu hướng này, Trường Đại học Khoa học tự nhiên đã tăng cường mở mới và cập nhật các chương trình đào tạo theo nhu cầu xã hội. Nhà trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt 4 chương trình đào tạo cử nhân xuất sắc liên thông với trình độ thạc sĩ; đồng thời mở nhiều chương trình đào tạo liên ngành nhằm đáp ứng đặc thù của lĩnh vực STEM.
Cùng với đó, nhà trường chuẩn bị hệ thống phòng thí nghiệm phục vụ thực hành, thực tập và triển khai chương trình phát triển giáo dục STEM trong các trường trung học phổ thông thuộc hệ thống Đại học Quốc gia Hà Nội, tạo điều kiện để học sinh có sự kết nối thuận lợi từ bậc phổ thông lên đại học.
PGS.TS Trần Quốc Bình cho biết, dưới góc độ một cơ sở đào tạo trong lĩnh vực STEM, nhà trường rất phấn khởi trước những chuyển biến tích cực và tin tưởng vào triển vọng phát triển của lĩnh vực này trong thời gian tới.
Hà Nội có thể trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu châu Á

Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, khi Nghị quyết số 57-NQ/TW được triển khai đồng bộ, hiệu quả, đến năm 2030 Hà Nội sẽ có nhiều thay đổi mạnh mẽ với vai trò là trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả nước.
Ông Trương Ngọc Kiểm cho biết, khi tham dự lễ công bố Quy hoạch Thủ đô Hà Nội, ông cảm nhận rõ tầm nhìn xa, khát vọng lớn, quyết tâm cao và sự đồng thuận của các cơ quan trên địa bàn thành phố. Với vai trò vừa là người dân, vừa là nhà khoa học, ông tin tưởng đến năm 2030, trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Hà Nội sẽ trở thành một trong những trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu châu Á.
Theo ông, Hà Nội sẽ là trung tâm nghiên cứu, phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược; đẩy mạnh chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ các trường đại học vào thực tiễn; đồng thời thu hút nhiều tập đoàn công nghệ lớn và các trung tâm nghiên cứu, phát triển của các tập đoàn đa quốc gia. Ông bày tỏ tin tưởng Hà Nội không chỉ trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu châu Á mà còn có thể vươn lên nhóm dẫn đầu thế giới.
Còn theo PGS.TS Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, khi Nghị quyết số 57-NQ/TW được triển khai hiệu quả, Hà Nội sẽ có một tương lai rất tươi sáng.
Ông Trần Quốc Bình cho rằng, trước hết nền kinh tế của Hà Nội sẽ chuyển sang kinh tế tri thức, không còn phụ thuộc nhiều vào đất đai, nhà xưởng hay tài nguyên, mà dựa trên các thành tựu khoa học, công nghệ và tri thức như trí tuệ nhân tạo, phần mềm, thiết kế chip bán dẫn hay các sản phẩm công nghệ sinh học.
Theo ông, dưới góc độ một cơ sở đào tạo đại học, Hà Nội sẽ hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo với hệ sinh thái hoàn chỉnh. Đơn cử như tại Hòa Lạc, trong tương lai gần sẽ có nhiều trường đại học cùng hội tụ với Khu công nghệ cao Hòa Lạc để tạo nên hệ sinh thái thuận lợi cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ.
Bên cạnh đó, công nghệ sẽ phục vụ trực tiếp đời sống người dân thông qua các hệ thống thông minh góp phần giải quyết các vấn đề của đô thị như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và nhiều lĩnh vực khác.