Vai trò của “kỳ lân” dẫn dắt trong phát triển công nghiệp văn hoá
“Nếu không có kỳ lân công nghiệp văn hóa, sẽ không có Công nghiệp văn hóa cạnh tranh toàn cầu”- Đây là thông điệp được Chủ tịch sáng lập DatVietVAC Đinh Bá Thành đưa ra tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2026 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

Theo ông Đinh Bá Thành, chính sách có thể mở đường cho sự phát triển của một ngành kinh tế, nhưng để ngành đó đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu cần những doanh nghiệp tiên phong đóng vai trò dẫn dắt. Chính những doanh nghiệp đầu tàu mới là lực đẩy biến tiềm năng văn hóa thành một ngành kinh tế có khả năng chinh phục thị trường quốc tế.
Ông Thành cho biết, nhiều năm qua Việt Nam đã chứng minh được năng lực sản xuất các chương trình giải trí có sức lan tỏa lớn, thu hút hàng triệu khán giả và tạo hiệu ứng mạnh trên các nền tảng số. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở việc gia công format hoặc khai thác doanh thu một lần từ chương trình thì giá trị tạo ra vẫn rất hữu hạn.
Để phát triển cộng đồng người hâm mộ và quyết định sức cạnh tranh dài hạn, theo ông Thành, không phải số lượng chương trình được sản xuất, mà là khả năng sở hữu tài sản trí tuệ (IP). “Công nghiệp văn hóa muốn trở thành một ngành kinh tế phải dựa trên ba trụ cột: sáng tạo nguyên bản (Innovation), sở hữu tài sản trí tuệ (IP) và ứng dụng công nghệ để mở rộng quy mô phân phối cũng như thương mại hóa toàn cầu”- ông Thành nhấn mạnh.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đã từng nói: giá trị lớn nhất của Công nghiệp văn hóa nằm ở việc ai sở hữu ý tưởng gốc, ai nắm quyền khai thác và ai có khả năng phát triển một tài sản trí tuệ thành cả một hệ sinh thái.
Dẫn kinh nghiệm từ Hàn Quốc, ông Thành cho rằng thành công của K-Culture không chỉ đến từ BTS, điện ảnh hay các chương trình truyền hình nổi tiếng mà còn được tạo dựng bởi những doanh nghiệp có khả năng sáng tạo IP, quản trị nghệ sĩ, xây dựng cộng đồng người hâm mộ và mở rộng chuỗi giá trị sang âm nhạc, điện ảnh, thời trang, du lịch, tiêu dùng cùng nhiều lĩnh vực khác.
Theo ông Thành, Việt Nam cũng sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi như quy mô dân số lớn, tỷ lệ sử dụng Internet cao và thị trường nội địa giàu tiềm năng. Tuy nhiên, những lợi thế này sẽ khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh nếu thiếu các doanh nghiệp đủ khả năng tổ chức toàn bộ chuỗi giá trị của Công nghiệp văn hóa.

Lãnh đạo DatVietVAC kiến nghị cần xây dựng một cơ chế phát triển đủ mạnh để hình thành các doanh nghiệp dẫn dắt ngành, tương tự những chính sách dành cho các lĩnh vực kinh tế ưu tiên.
Ông Thành chia sẻ, ở các quốc gia có nền Công nghiệp văn hóa phát triển, những kỳ lân dẫn dắt ngành không chỉ được đánh giá bằng doanh thu hay số lượng chương trình thành công. Quan trọng hơn, doanh nghiệp phải có khả năng kết nối tài nguyên văn hóa với thị trường, chuyển hóa bản sắc địa phương thành sản phẩm có sức lan tỏa, đồng thời tạo ra giá trị cho nhiều ngành kinh tế khác. Ông Thành khẳng định: “Tại Việt Nam, bài toán này càng trở nên cấp thiết khi nhiều địa phương sở hữu kho tàng di sản, cảnh quan và bản sắc văn hóa phong phú nhưng còn thiếu những doanh nghiệp đủ năng lực biến các nguồn lực đó thành nội dung, lễ hội, tài sản trí tuệ và giá trị kinh tế”.
Ông Thành nhấn mạnh, để công nghiệp văn hóa có năng lực cạnh tranh toàn cầu, Việt Nam cần hình thành những doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt thị trường. Đây sẽ là lực lượng đưa tài sản trí tuệ Việt Nam ra quốc tế và chuyển hóa các nguồn lực văn hóa thành động lực tăng trưởng bền vững.