Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo:Gỡ điểm nghẽn, kích hoạt động lực tăng trưởng
LTS: Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực.
Loạt bài “Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Gỡ điểm nghẽn, kích hoạt động lực tăng trưởng” của ấn phẩm Hànộimới hằng ngày (Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội) sẽ làm rõ các giải pháp mà Chính phủ nói riêng, cả hệ thống chính trị nói chung đang triển khai nhằm đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm, chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm, doanh nghiệp và tạo động lực tăng trưởng mới của đất nước.

Bài 1: Muốn có công nghệ mạnh, phải đúng từ “đầu bài”
Lần đầu tiên, toàn bộ những điểm nghẽn của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, từ khâu xác định nhiệm vụ nghiên cứu, cơ chế tài trợ, tổ chức thực hiện, sở hữu trí tuệ, thương mại hóa đến phát triển thị trường, được nhận diện một cách hệ thống. Trong chuỗi điểm nghẽn ấy, mắt xích đầu tiên nằm ngay ở khâu xác định nhiệm vụ nghiên cứu. Khi “đầu bài” chưa xuất phát từ yêu cầu phát triển của đất nước và nhu cầu của thị trường, thì khó tạo ra công nghệ có giá trị và sản phẩm có sức cạnh tranh.
Khi nghiên cứu bắt đầu từ bài toán phát triển
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW đi vào cuộc sống đã tạo những chuyển biến rõ nét trong tư duy phát triển và tổ chức hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Các cơ quan trong hệ thống chính trị đã xây dựng, trình ban hành hơn 400 văn bản, trong đó có 30 luật; ngân sách dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt khoảng 3% tổng chi ngân sách nhà nước - mức cao nhất trong 10 năm. Đồng thời, tư duy quản lý cũng chuyển mạnh từ kiểm soát đầu vào sang trao quyền tự chủ, quản lý theo mục tiêu và kết quả đầu ra.
Lần đầu tiên, Chính phủ ban hành danh mục 10 nhóm công nghệ và 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, đồng thời giao 20 bài toán lớn của đất nước đến năm 2030 để tập trung nguồn lực giải quyết. Đây được xem là bước chuyển quan trọng, đưa hoạt động khoa học và công nghệ gắn chặt hơn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với đó, nhiều cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện, nguồn lực đầu tư cho đổi mới sáng tạo tiếp tục được tăng cường và doanh nghiệp ngày càng chủ động tham gia nghiên cứu, làm chủ công nghệ mới. Tuy nhiên, các chính sách mới vẫn cần thêm thời gian để phát huy đầy đủ hiệu quả. Thực tiễn triển khai cho thấy, nhiều nút thắt cũ vẫn chưa được giải quyết triệt để. Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Ban Chỉ đạo 57) đánh giá, khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến công nghệ và sản phẩm tạo ra giá trị cho nền kinh tế vẫn chưa được rút ngắn như kỳ vọng. Nhiều kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa, tác động đến phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế.
Qua rà soát toàn bộ chuỗi đổi mới sáng tạo, Ban Chỉ đạo 57 xác định, điểm nghẽn đầu tiên không nằm ở năng lực nghiên cứu mà ở khâu hình thành nhiệm vụ khoa học. Nhiều đề tài vẫn chủ yếu xuất phát từ đề xuất của các tổ chức khoa học và công nghệ, trong khi doanh nghiệp - chủ thể trực tiếp ứng dụng kết quả nghiên cứu - chưa tham gia đầy đủ ngay từ đầu. Cơ chế đặt hàng từ bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp còn thiếu hiệu quả; việc đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp cho nghiên cứu ứng dụng vẫn gặp nhiều vướng mắc.
Điều đó khiến chuỗi đổi mới sáng tạo thiếu sự kết nối ngay từ điểm xuất phát. Nhà khoa học thiếu những “đầu bài” gắn với nhu cầu thực tiễn; doanh nghiệp chưa thực sự trở thành chủ thể của hoạt động nghiên cứu; còn thị trường thiếu cơ sở để tiếp nhận sản phẩm. Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường vì thế vẫn là bài toán cần tiếp tục tháo gỡ.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân chỉ rõ, muốn khắc phục những điểm nghẽn này cần đổi mới cách tổ chức hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp phải tham gia ngay từ khâu đặt hàng, xác định nhu cầu nghiên cứu và đồng hành trong suốt quá trình phát triển công nghệ đến thương mại hóa. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua hoàn thiện thể chế và đầu tư hạ tầng dùng chung.
Sự thay đổi trong cách hình thành nhiệm vụ nghiên cứu cũng được thể hiện rõ ở quá trình xác định các công nghệ chiến lược. Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) Lưu Quang Minh cho biết, nếu trước đây việc lựa chọn công nghệ ưu tiên chủ yếu dựa trên xu hướng phát triển của thế giới thì nay xuất phát từ các bài toán lớn của quốc gia, của nền kinh tế và từng ngành, lĩnh vực. Công nghệ chiến lược không chỉ là công nghệ tiên tiến mà còn phải gắn với sản phẩm cụ thể, chủ thể có năng lực triển khai và thị trường đầu ra, tránh đầu tư dàn trải hoặc chạy theo phong trào.
Thiết kế lại “đầu vào”

Trong nhiều năm, hoạt động khoa học và công nghệ chủ yếu được triển khai theo các chương trình, đề tài, dự án tương đối độc lập. Nhiều kết quả nghiên cứu đạt yêu cầu về học thuật nhưng chưa tạo được tác động rõ nét đối với sản xuất, kinh doanh và đời sống. Một trong những nguyên nhân là khoảng cách giữa định hướng chiến lược với nhiệm vụ nghiên cứu còn lớn, trong khi mối liên kết giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ và thương mại hóa chưa được hình thành ngay từ đầu.
Để khắc phục hạn chế này, cách tiếp cận mới không còn dừng ở việc xác định lĩnh vực ưu tiên mà chuyển sang thiết kế các nhiệm vụ chiến lược xuất phát từ nhu cầu phát triển của đất nước, yêu cầu làm chủ công nghệ, khả năng tạo ra sản phẩm và năng lực triển khai của các chủ thể tham gia. Khi đó, việc xác định nhiệm vụ khoa học không chỉ là lựa chọn một đề tài nghiên cứu mà trở thành điểm khởi đầu của cả chuỗi đổi mới sáng tạo.
Điểm thay đổi cốt lõi là chuyển tư duy từ “xin đề tài” sang “giải bài toán”. Ngay từ khi hình thành, mỗi nhiệm vụ phải trả lời rõ bài toán quốc gia cần giải quyết là gì, sản phẩm nào sẽ được tạo ra, doanh nghiệp nào có khả năng tiếp nhận, ai chịu trách nhiệm đưa kết quả vào thực tiễn và nguồn lực sẽ được huy động từ đâu. Cách tiếp cận này giúp gắn kết nghiên cứu với nhu cầu thị trường, đồng thời xác lập trách nhiệm của các chủ thể ngay từ đầu thay vì chỉ đánh giá khi đề tài kết thúc.
Song hành với sự thay đổi đó, vai trò của Bộ Khoa học và Công nghệ cũng chuyển từ quản lý các đề tài nghiên cứu sang kiến tạo và điều phối hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung xây dựng cơ chế đặt hàng từ các bài toán lớn của quốc gia; hoàn thiện danh mục công nghệ và nhiệm vụ chiến lược; kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học; phát triển nền tảng số quản lý nhiệm vụ khoa học và điều phối nguồn lực cho các mục tiêu ưu tiên.
Các công cụ tài chính cũng được điều chỉnh theo hướng hỗ trợ xuyên suốt chuỗi đổi mới sáng tạo. Cơ chế mới của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) mở rộng phạm vi hỗ trợ từ nghiên cứu khoa học sang khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tài trợ liên tục từ nghiên cứu cơ bản đến hoàn thiện công nghệ trước thương mại hóa, đồng thời bổ sung các hình thức đặt hàng theo kết quả, đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, hỗ trợ kiểm chứng công nghệ và phát triển hạ tầng công nghệ chiến lược. Cùng với đó, cơ chế tài chính được đổi mới theo hướng quản lý dựa trên kết quả, tăng quyền tự chủ và tăng cường giám sát trong suốt quá trình triển khai; các quy định đối với Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) và hệ thống quỹ đầu tư mạo hiểm cũng tiếp tục được hoàn thiện nhằm đa dạng hóa nguồn lực cho đổi mới sáng tạo.
Bộ Khoa học và Công nghệ đang phối hợp với các bộ, ngành triển khai các nhiệm vụ chiến lược, đồng thời tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển các công nghệ chiến lược gắn với mục tiêu làm chủ công nghệ và tạo ra sản phẩm có giá trị thực tiễn. Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân, muốn phát triển công nghệ chiến lược cần xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; tăng cường chia sẻ hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm và các nguồn lực dùng chung. Chỉ khi các chủ thể cùng tham gia trong một hệ sinh thái thống nhất, khoa học và công nghệ mới có thể chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, có “đầu bài” đúng mới chỉ là điều kiện đầu tiên. Muốn công nghệ đột phá xuất hiện còn cần một cơ chế quản trị đủ cởi mở để nhà khoa học dám chấp nhận rủi ro.
(Còn nữa)