Cơ chế tài chính cho công nghệ chiến lược
Dự thảo Thông tư quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc được xây dựng theo hướng từ “tư duy quản lý kinh phí nghiên cứu” sang “đầu tư cho công nghệ chiến lược”.
Tháo gỡ 4 vấn đề cụ thể

Theo các chuyên gia, các quy định về tài chính cho phát triển công nghệ chiến lược trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi, tháo gỡ khó khăn. Chẳng hạn, các quy định của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025; Luật Ngân sách nhà nước 2025… đã tạo bước chuyển mạnh mẽ trong hoàn thiện thể chế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, đối với chương trình, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, nhất là các nhiệm vụ có yêu cầu phát triển công nghệ lõi, công nghệ nguồn, tích hợp hệ thống, sản xuất thử nghiệm, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm, cơ chế tài chính hiện hành chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý và tổ chức thực hiện.
Trong khi đó, Nghị quyết 57/NQ-TW yêu cầu có cơ chế đặc thù để phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặc biệt là phát triển công nghệ chiến lược và thu hút nhân tài. Nhiệm vụ đặt ra là ban hành cơ chế đặc thù thu hút người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài có trình độ cao về Việt Nam làm việc; có chính sách về nhập quốc tịch, nhà ở, thu nhập và môi trường làm việc để trọng dụng các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư.
Do vậy, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng dự thảo Thông tư quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt sử dụng ngân sách nhà nước.

Thông tư tập trung vào tháo gỡ 4 vấn đề cụ thể. Trước hết, với cơ chế chi trả thù lao đối với nhân lực thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, dự thảo Thông tư đề xuất cơ chế chi trả thù lao theo vị trí công việc đối với tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng, chủ nhiệm nhiệm vụ, chuyên gia, nhà khoa học và nhân lực trình độ cao.
Với cơ chế lập dự toán, đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, bổ sung phương thức quản trị phù hợp với đặc thù của quá trình phát triển công nghệ. Theo đó, việc lập dự toán cần gắn từng khoản chi với nhóm công việc, mốc đánh giá và kết quả đầu ra tương ứng nhằm quản lý xuyên suốt quá trình hình thành sản phẩm công nghệ, làm căn cứ thực hiện thanh toán theo mốc đánh giá, khoán chi theo kết quả đầu ra, đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước và tăng cường trách nhiệm giải trình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Trọng tâm là con người, sản phẩm đầu ra và khả năng thương mại hóa

Theo các chuyên gia, thay vì tập trung quản lý chi tiết từng khoản mục kinh phí theo cách truyền thống, cơ chế mới chuyển dịch sang tư duy đầu tư cho công nghệ chiến lược. Cách tiếp cận này, nhằm giải quyết những bài toán lớn của quốc gia.
Chẳng hạn, qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, cho thấy các chương trình nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược không áp dụng định mức thù lao hành chính mà thực hiện chi trả theo vị trí công việc, năng lực chuyên môn và mặt bằng của thị trường lao động khoa học và công nghệ.
Phân tích cụ thể về cơ chế chi trả thù lao đối với nhân lực thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bà Nguyễn Thị Kim Thanh, Kế toán trưởng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, cho hay dựa trên tham chiếu từ mô hình Cơ quan Nghiên cứu khoa học và công nghệ Singapore (A*STAR) và điều chỉnh theo sức mua tương đương tại Việt Nam, dự thảo đề xuất mức thu nhập sau thuế cho vị trí tổng công trình sư lên đến 300 triệu đồng/tháng, kiến trúc sư trưởng 250 triệu đồng và chủ nhiệm nhiệm vụ 150 triệu đồng. Mức đãi ngộ này không chỉ tương xứng với tài năng mà còn gắn liền với trách nhiệm và cam kết về kết quả sản phẩm cuối cùng.
Cũng theo bà Thanh, việc thực hiện cơ chế tài chính đột phá sẽ tạo ra tác động tích cực cho toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, giúp Nhà nước thu hút nhân tài, doanh nghiệp có công nghệ để thương mại hóa và nhà khoa học được hưởng đãi ngộ xứng đáng. "Muốn có công nghệ chiến lược phải có cơ chế tài chính chiến lược và đây là bước đi tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số”, bà Nguyễn Thị Kim Thanh nói.

Tán thành đề xuất của dự thảo, PGS, TS Trần Đỗ Đạt, Phó Giám đốc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc nhận định, việc quy định kinh phí thù lao cao để thu hút những người có trình độ làm việc, nhất là các nhiệm vụ đặc biệt là rất cần thiết.
Từ kinh nghiệm quản lý, thực tiễn của cá nhân, ông Đạt cho rằng, định mức như dự thảo là phù hợp và sẽ khuyến khích động viên các nhà khoa học, mà đồng thời, còn phù hợp và có thể tương đương, cạnh tranh được với các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay. Ngoài ra, việc quy định thù lao với các vị trí như dự thảo cũng sẽ giúp các nhóm nghiên cứu, đơn vị nghiên cứu hình dung rõ hơn mình cần những cán bộ nghiên cứu như thế nào…
Các chuyên gia cũng nhận định, việc xây dựng văn bản về cơ chế tài chính cho các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược là vô cùng quan trọng, giúp giải quyết mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong ngắn hạn và tính tự lực tự cường trong dài hạn. Việc khơi thông cơ chế này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ công nghệ và công nghiệp chiến lược.
Thông tin thêm, ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, việc xây dựng một Thông tư mới nhằm tạo đột phá trên nhiều góc độ, đầu tiên nằm ở tư duy quản lý, tiếp đến là đột phá về cơ chế tài chính và đột phá về quá trình quản lý và xây dựng, chuyển cách nhìn về một dự án, nhiệm vụ khoa học và công nghệ sang sát với thực tế.