Nông nghiệp - Nông thôn

Sửa đổi Nghị định 38: Gỡ điểm nghẽn, giảm thủ tục để nông sản Việt tăng sức cạnh tranh

Quỳnh Dung 09/07/2026 - 17:20

Sau gần 6 tháng triển khai, Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24-1-2026 của Chính phủ về quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói đã góp phần chuẩn hóa hoạt động sản xuất, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu. Tuy nhiên, thực tiễn cũng phát sinh một số vướng mắc cần sớm điều chỉnh...

Trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, Bộ đang khẩn trương hoàn thiện phương án sửa đổi Nghị định theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường hậu kiểm và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Đơn giản hóa thủ tục, chuyển mạnh sang hậu kiểm

- Thưa Thứ trưởng, Nghị định số 38/2026/NĐ-CP mới được ban hành từ đầu năm 2026, nhưng Bộ đã đề xuất sửa đổi. Đâu là nguyên nhân của việc điều chỉnh sớm này?

- Trong quá trình triển khai, chúng tôi nhận thấy Nghị định 38 đã tạo được hành lang pháp lý quan trọng cho công tác quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Theo quy định hiện hành, mã số vùng trồng là điều kiện bắt buộc với nhiều loại nông sản xuất khẩu sang các thị trường: Trung Quốc, Mỹ, Australia, New Zealand, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu...

Vùng trồng muốn được cấp mã phải đáp ứng các yêu cầu về quản lý sinh vật gây hại, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, ghi chép nhật ký sản xuất và các quy định của từng thị trường nhập khẩu. Sau khi được cấp mã, vùng trồng tiếp tục chịu giám sát và có thể bị tạm dừng hoặc thu hồi nếu không duy trì các điều kiện theo quy định.

Tính đến tháng 5-2026, cả nước đã có 9.546 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn. Riêng thị trường Trung Quốc hiện có 4.323 mã số vùng trồng và 1.332 mã số cơ sở đóng gói được phê duyệt.

sau-rieng-5.jpg
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường khảo sát thực tế vùng trồng, cơ sở đóng gói, phòng kiểm nghiệm sâu riêng làm việc tại tỉnh Đắk Lắk. Ảnh: Minh Việt

Tuy nhiên, thực tiễn cũng phát sinh một số nội dung chưa thật sự phù hợp. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ đang khẩn trương nghiên cứu sửa đổi để vừa bảo đảm yêu cầu quản lý Nhà nước, vừa tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp.

Điểm sửa đổi đầu tiên là cách tiếp cận trong cấp mã số vùng trồng. Hiện nay có những quy định về quy mô diện tích, chẳng hạn một mã số vùng trồng phải đạt tối thiểu 10ha. Qua thực tế triển khai, quy định này chưa phù hợp với nhiều vùng sản xuất, đặc biệt là các khu vực có diện tích nhỏ nhưng tổ chức sản xuất tốt. Vì vậy, Bộ sẽ nghiên cứu điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn.

Một nội dung khác là làm rõ quy định đối với vùng trồng chuyên canh và vùng trồng xen canh nhằm thống nhất cách hiểu và cách áp dụng trên phạm vi cả nước. Quan trọng hơn, lần sửa đổi này sẽ hướng đến giảm tối đa chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Hồ sơ, thủ tục cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ được thiết kế theo hướng đơn giản, ổn định, hạn chế phát sinh thủ tục mới khi các thị trường nhập khẩu thay đổi yêu cầu kỹ thuật.

- Bộ sẽ đổi mới phương thức quản lý như thế nào?

- Tinh thần xuyên suốt là chuyển mạnh từ tư duy "quản lý" sang "phục vụ". Trước đây, nhiều thủ tục thiên về tiền kiểm. Sắp tới, người dân và doanh nghiệp sẽ chủ yếu thực hiện khai báo theo quy định, sau đó cơ quan quản lý tăng cường hậu kiểm. Cùng với đó, Bộ sẽ xây dựng quy trình thủ tục hành chính toàn trình trên môi trường số, người dân chỉ cần truy cập Cổng thông tin điện tử để kê khai hồ sơ cấp mã số vùng trồng. Việc số hóa toàn bộ quy trình sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí và tăng tính minh bạch.

sau-rieng-4.jpg
Sắp tới, người dân và doanh nghiệp sẽ chủ yếu thực hiện khai báo theo quy định, sau đó cơ quan quản lý tăng cường hậu kiểm. Ảnh: PV

Vai trò của cơ quan quản lý Nhà nước cũng sẽ thay đổi theo hướng hỗ trợ, hướng dẫn người dân sản xuất đúng quy trình, đồng thời khuyến khích liên kết hình thành các vùng nguyên liệu lớn phục vụ xuất khẩu. Cùng với đó, Nghị định sửa đổi cũng sẽ quy định rõ trách nhiệm và chế tài xử lý đối với các trường hợp vi phạm, bảo đảm những đơn vị làm ăn nghiêm túc được bảo vệ, còn những hành vi làm ảnh hưởng đến uy tín của cả chuỗi sản xuất sẽ bị xử lý nghiêm. Mã số vùng trồng phải gắn với truy xuất nguồn gốc và xây dựng niềm tin thị trường

Mã số vùng trồng phải gắn với truy xuất nguồn gốc

- Hiện các địa phương đang triển khai hoàn thành cấp mã số vùng trồng. Bộ sẽ đồng hành như thế nào, thưa Thứ trưởng?

-Bộ sẽ phối hợp chặt chẽ với địa phương, đặt mục tiêu đến ngày 15-7 sẽ đưa vào vận hành thủ tục hành chính toàn trình đối với việc cấp mã số vùng trồng. Nếu vẫn thực hiện theo phương thức hồ sơ giấy như hiện nay thì rất khó đáp ứng tiến độ. Đồng thời, Bộ sẽ phối hợp khai thác cơ sở dữ liệu đất đai và mã định danh thửa đất để bảo đảm tính chính xác của thông tin vùng trồng. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng hệ thống quản lý hiện đại. Ngoài ra, cần huy động lực lượng thanh niên, sinh viên tình nguyện hỗ trợ người dân thực hiện khai báo trực tuyến, nhất là những hộ sản xuất còn hạn chế về kỹ năng công nghệ số.

- Theo Thứ trưởng, vấn đề quan trọng nhất để nông sản Việt Nam phát triển bền vững là gì?

- Điều cốt lõi là phải xây dựng một nền sản xuất có trách nhiệm. Mỗi sản phẩm đưa ra thị trường phải truy xuất được nguồn gốc, biết được ai sản xuất, quy trình sản xuất ra sao và khi xảy ra vi phạm thì xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Khi xây dựng được chuỗi sản xuất minh bạch, bảo đảm an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật, chúng ta mới tạo dựng được niềm tin đối với người tiêu dùng trong nước cũng như các thị trường nhập khẩu. Đó cũng là nền tảng để xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển xuất khẩu theo hướng bền vững trong thời gian tới.

buoi.png
Mỗi sản phẩm đưa ra thị trường phải truy xuất được nguồn gốc. Ảnh: PV

Việc sửa đổi Nghị định 38 không chỉ nhằm tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện mà còn thể hiện quyết tâm đổi mới phương thức quản lý theo hướng hiện đại, minh bạch và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Khi thủ tục hành chính được đơn giản hóa, ứng dụng chuyển đổi số được đẩy mạnh và công tác hậu kiểm được tăng cường, hệ thống quản lý mã số vùng trồng sẽ vận hành hiệu quả hơn. Đây cũng là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng chuỗi sản xuất nông sản có trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế, góp phần phát triển nền nông nghiệp bền vững.

- Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!