Tăng vị thế nông sản Việt tại thị trường Trung Quốc
Muốn tăng vị thế của nông sản Việt Nam tại thị trường Trung Quốc, doanh nghiệp bắt buộc phải bán những sản phẩm có hàm lượng chế biến cao, chất lượng ổn định đi kèm với truy xuất nguồn gốc và chuỗi cung ứng minh bạch.
Cạnh tranh bằng chất lượng
Thông tin từ Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), Trung Quốc hiện chiếm khoảng 2/3 tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Năm 2025, xuất khẩu rau quả đạt 8,56 tỷ USD, trong đó riêng thị trường Trung Quốc đạt khoảng 5,5 tỷ USD.

Việc nhiều nghị định thư xuất khẩu được ký kết thời gian qua đã và đang cơ hội rất lớn cho rau quả Việt. Tuy nhiên, cùng với quy mô nhập khẩu ngày càng lớn, các yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch trong chuỗi cung ứng của nước bạn cũng ngày càng khắt khe.
Nhiều chuyên gia và doanh nghiệp nhận định, giai đoạn tăng trưởng dựa vào sản lượng đang dần khép lại. Để mở rộng thị phần tại thị trường hơn 1,4 tỷ dân, nông sản Việt Nam phải chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị gia tăng.
Dẫn chứng về mặt hàng chuối, ông Phạm Quốc Liêm, Chủ tịch HĐQT Unifarm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho hay: Mỗi năm Trung Quốc nhập khẩu khoảng 1 tỷ USD chuối. Trong khi đó, Việt Nam hiện nằm trong nhóm 10 nước xuất khẩu chuối lớn nhất thế giới với kim ngạch hơn 418 triệu USD và diện tích sản xuất khoảng 161.000 ha.
Ngành chuối Việt Nam cũng đang hướng tới mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trong những năm tới. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, việc mở rộng diện tích hay tăng sản lượng là chưa đủ, mà phải tạo ra giá trị. Giá trị hình thành khi sản phẩm được xây dựng trên nền tảng khoa học công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và niềm tin của thị trường.
Theo ông Phạm Quốc Liêm, lợi thế của Việt Nam nằm ở điều kiện khí hậu phù hợp, vị trí gần các trung tâm tiêu thụ lớn của châu Á và khả năng phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Song, dư địa tăng trưởng chỉ thực sự được khai thác khi toàn bộ chuỗi sản xuất được nâng cấp, từ giống cây trồng, vùng nguyên liệu, canh tác, thu hoạch đến bảo quản và tiêu thụ.
Từ thực tiễn của Unifarm, doanh nghiệp đã đầu tư hơn 1.500 ha vùng nguyên liệu, phát triển giống chuối Uni126 có khả năng kháng bệnh Panama tới 95 - 98%, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng nghiêm ngặt trong toàn bộ quy trình sản xuất.
“Điều quan trọng nhất không phải là sở hữu công nghệ hiện đại mà là duy trì chất lượng ổn định. Đây chính là yếu tố giúp sản phẩm có thể thâm nhập và đứng vững tại các thị trường yêu cầu cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore”, ông Phạm Quốc Liêm nhấn mạnh.
Tăng chế biến sâu để nâng cao giá trị
Từ thực tiễn, nhiều chuyên gia, doanh nghiệp cho rằng, yêu cầu chung đối với ngành rau quả Việt Nam hiện nay là phải chuyển từ xuất khẩu dựa trên lợi thế nguyên liệu sang xuất khẩu dựa trên giá trị. Sự chuyển dịch này càng trở nên cấp thiết khi Trung Quốc không còn là thị trường tiêu thụ đơn thuần.

Tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh chóng cùng sự phát triển của ngành thực phẩm - đồ uống đang làm thay đổi cấu trúc nhu cầu tiêu dùng. Không chỉ cần trái cây tươi, thị trường này đang gia tăng nhập khẩu các sản phẩm có hàm lượng chế biến cao hơn như nước quả cô đặc, nước ép, puree trái cây (trái cây xay nhuyễn), rau quả đông lạnh, đồ hộp và nguyên liệu phục vụ công nghiệp thực phẩm.
Theo ông Đinh Cao Khuê, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao (Doveco), đây mới là phân khúc có tiềm năng tăng trưởng lớn nhất trong những năm tới. Khác với trái cây tươi phụ thuộc vào mùa vụ và chịu áp lực lớn về thời gian tiêu thụ, các sản phẩm chế biến sâu có khả năng bảo quản lâu hơn, ổn định hơn và mang lại giá trị kinh tế cao hơn.
Khảo sát thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc quan tâm tới các sản phẩm dứa, chanh leo, xoài, chuối.... Đây là những mặt hàng Việt Nam có lợi thế về nguồn cung nguyên liệu nhưng vẫn còn nhiều dư địa để nâng tỷ lệ chế biến.
“Giai đoạn hợp tác tiếp theo giữa Việt Nam và Trung Quốc cần mở rộng sang liên kết vùng nguyên liệu, đầu tư nhà máy chế biến, phát triển kho lạnh, logistics và hệ thống phân phối. Khi tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, doanh nghiệp Việt Nam mới có thể giữ lại phần giá trị lớn hơn thay vì chỉ bán nguyên liệu”, ông Đinh Cao Khuê nói.
Quan tâm về những điểm nghẽn cần được tháo gỡ, ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group cho biết, việc cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói hiện vẫn là một trong những rào cản lớn đối với doanh nghiệp xuất khẩu.
Do đó, cần đẩy mạnh kiểm tra trực tuyến, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng hai nước và hình thành “luồng xanh” cho các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt. Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống dữ liệu số dùng chung để quản lý mã số vùng trồng cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm tăng tính minh bạch và hạn chế tình trạng gian lận.
Lợi thế của rau quả Việt rất lớn, song sẽ khó duy trì nếu doanh nghiệp tiếp tục phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô vào thị trường Trung Quốc. Hướng đi trong thời gian tới không chỉ là mở rộng danh mục sản phẩm được cấp phép xuất khẩu, mà còn phải nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu, đẩy mạnh chế biến sâu, hoàn thiện hệ thống logistics và tăng cường ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc.
Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Quốc Mạnh