Chuyển từ tư duy “ứng dụng công nghệ” sang “giải bài toán phát triển bằng công nghệ”
Sau 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhiều địa phương đã chuyển từ tư duy “ứng dụng công nghệ” sang tư duy “giải bài toán phát triển bằng công nghệ”.
Nền tảng cho mô hình quản trị số hiện đại
Tham luận tại Hội nghị sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị chiều 1-7, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Phạm Đại Đương cho biết, thời gian qua tỉnh luôn hoàn thành 100% chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao bảo đảm tiến độ, chất lượng; không có nhiệm vụ nào bị quá hạn hay tồn đọng. Những thay đổi căn bản về tư duy, nhận thức, cách làm đã biến dữ liệu thành năng lực quản trị và biến công nghệ thành động lực.
Tỉnh xây dựng Đề án chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, phát triển hệ thống điều hành tăng trưởng dựa trên dữ liệu thời gian thực, kết hợp các công cụ KPI, OKR và trí tuệ nhân tạo phục vụ dự báo, cảnh báo. Song song với đó là việc xây dựng kho dữ liệu dùng chung, triển khai chiến dịch làm sạch dữ liệu; quy mô kinh tế số của tỉnh hiện ước đạt 22,71% GRDP, đứng thứ ba cả nước; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 95%, tạo nền tảng cho mô hình quản trị số hiện đại.
Điểm đáng chú ý trong cách làm của tỉnh Phú Thọ là lựa chọn công nghệ để chủ động giải quyết trực tiếp các bài toán phát triển. Thay vì đầu tư dàn trải, trong năm 2026, tỉnh xác định 6 bài toán lớn, trong đó tập trung vào các mũi nhọn kinh tế.

Ở lĩnh vực công nghiệp, tỉnh tập trung thu hút FDI thế hệ mới trong các ngành điện tử, bán dẫn, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng tỷ lệ doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong nông nghiệp, chuyển đổi số được ứng dụng vào sản xuất theo chuỗi giá trị, từ các mô hình cây ăn quả, rau VietGAP đến chế biến nông sản, góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Đối với du lịch, gần 100 điểm di tích và làng nghề đã được số hóa bằng công nghệ 3D, VR360 và mã QR, tạo nền tảng phát triển du lịch thông minh và kinh tế trải nghiệm. Trong lĩnh vực môi trường, tỉnh triển khai các mô hình kinh tế tuần hoàn, xử lý rác thải tại nguồn…
“Với đặc thù địa hình nhiều đồi núi, tỉnh cũng đặt ra bài toán về cảnh báo, phòng, chống và kiểm soát tối ưu thiệt hại do lũ lụt, sạt lở đất, dựa trên triển khai Hệ thống tích hợp cảnh báo sớm - chỉ huy - phản ứng hiện tượng lũ lụt, sạt lở đất tích hợp dữ liệu đa nguồn thời gian thực (cảm biến thực địa), AI phân tích cảnh báo, dashboard chỉ huy...”, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Phạm Đại Đương cho biết.
Trong khi đó, tại tỉnh Đồng Nai, tỉnh xác định xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực để trở thành trung tâm công nghệ cao của cả nước.
Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Võ Tấn Đức chia sẻ, triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, địa phương đạt tỷ lệ hồ sơ trực tuyến 99,86%, tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu 90%, mô hình quản trị dựa trên dữ liệu bước đầu giúp tiết kiệm khoảng 34 tỷ đồng ngân sách mỗi năm.
Tỉnh Đồng Nai đã đưa vào vận hành các nền tảng dữ liệu tài chính số, dữ liệu không gian nhiều lớp và Trung tâm điều hành thông minh (IOC), từng bước chuyển từ quản lý truyền thống sang quản trị theo dữ liệu thời gian thực.
Đồng thời, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp là trung tâm, viện, trường là nền tảng tri thức và người dân là chủ thể sáng tạo, kết nối toàn bộ chuỗi từ nghiên cứu, phát triển công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp đến thương mại hóa sản phẩm và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Tỉnh Đồng Nai chủ động hình thành không gian phát triển cho đổi mới sáng tạo thông qua Mạng lưới Đổi mới sáng tạo, 41 không gian sáng tạo cấp xã, phường, cùng các dự án như Khu Đổi mới sáng tạo Bình An, Khu Khoa học và Công nghệ Đồng Xoài và Khu Công nghệ số tập trung Long Thành.
Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Võ Tấn Đức nhấn mạnh, giai đoạn tới địa phương sẽ tập trung vào các trụ cột: Hoàn thiện thể chế và thu hút các tập đoàn công nghệ chiến lược; phát triển nền quản trị theo định hướng AI-First với dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; đồng thời xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện, thúc đẩy hình thành các trung tâm R&D và doanh nghiệp công nghệ.

Bên cạnh những kết quả đạt được, các địa phương cũng kiến nghị Trung ương sớm hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia và nền tảng dùng chung liên thông, ban hành cơ chế đủ mạnh để thu hút, trọng dụng nhân tài khoa học, công nghệ. Xây dựng cơ chế hợp tác công - tư, định giá tài sản trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; đồng thời sớm ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới…
Đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường
Theo GS.TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, để Nghị quyết 57-NQ/TW đi vào thực tiễn, cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ngay trong các cơ sở giáo dục đại học, gắn kết đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.
Đại học Bách khoa Hà Nội đã xây dựng Không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành quy mô 10.000m², phát triển Trung tâm Đổi mới sáng tạo liên ngành và hướng tới hình thành Innovation Park, tạo môi trường kết nối đào tạo, nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ.

Để tăng tốc hơn nữa phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội kiến nghị cần ưu tiên đầu tư phát triển ngành công nghiệp vật liệu - lĩnh vực nền tảng, chiến lược của quốc gia thông qua xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu hiện đại theo mô hình liên kết “ba nhà”. Đồng thời, cần có cơ chế học bổng, chính sách thu hút, đãi ngộ đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành nhằm hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này.
Theo GS.TS Lê Anh Tuấn, mặc dù nhiều chính sách mới về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được ban hành, nhưng thủ tục hành chính vẫn cần tiếp tục cải cách theo hướng “một cửa”, “luồng xanh”, đồng thời ưu tiên phân bổ ngân sách trực tiếp cho các đại học nghiên cứu trọng điểm.
Bên cạnh đó, cần ban hành hướng dẫn chi tiết về định giá tài sản trí tuệ và thủ tục thành lập doanh nghiệp khởi nguồn từ cơ sở giáo dục đại học; tăng tốc vận hành các quỹ phát triển khoa học, công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đổi mới sáng tạo tại các trường đại học, viện nghiên cứu; nghiên cứu triển khai chương trình đầu tư quốc gia phát triển các Innovation Park tại những trường đại học có đủ năng lực dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Lưu Anh Tuấn, Phó Tổng Giám đốc, Công ty CP VinSmart Future cho rằng tích hợp AI và Big Data sẽ tạo đột phá triển khai công nghệ chiến lược. Theo đó, AI hiện nay đã vượt xa phạm vi một ứng dụng công nghệ. AI là lớp năng lực xuyên suốt, có thể tăng tốc bán dẫn, robot, sản xuất thông minh, y tế, giáo dục, tài chính, đô thị thông minh, quản trị quốc gia và quốc phòng an ninh.
Dữ liệu là nguyên liệu chiến lược; AI là động cơ chuyển hóa nguyên liệu đó thành tri thức, quyết định, năng suất và sản phẩm thương mại. Quốc gia nào làm chủ được dữ liệu, mô hình nền tảng và hạ tầng tính toán sẽ có quyền chủ động trong các chuỗi giá trị công nghệ mới.
Từ thực tiễn triển khai, Tập đoàn Vingroup đề xuất 6 đột phá chiến lược: Xây dựng hạ tầng dữ liệu AI quốc gia, chuẩn hóa, xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu; đầu tư phát triển các mô hình AI nền tảng "Make in Vietnam"; phát triển hạ tầng tính toán AI quốc gia; đổi mới thể chế để thúc đẩy đổi mới sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực và thu hút nhân tài AI; thúc đẩy thương mại hóa và đưa AI Việt Nam ra toàn cầu…