Tài chính

Chính phủ giúp doanh nghiệp có thêm “khoảng thở” để sản xuất, kinh doanh

Hậu Lộc 01/07/2026 - 11:33

Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn chịu tác động từ biến động thị trường thế giới, chi phí vốn, chi phí nguyên vật liệu, áp lực cạnh tranh và yêu cầu phục hồi tăng trưởng, việc giãn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất giúp doanh nghiệp có thêm “khoảng thở” về tài chính.

Phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội vừa có cuộc trao đổi với đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga xung quanh việc Chính phủ ban hành Nghị định 245/2026/NĐ-CP gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2026.

Củng cố niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường điều hành

- Việc Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất trong năm 2026 cho thấy quyết tâm đồng hành cùng doanh nghiệp. Theo bà, chính sách này có ý nghĩa như thế nào đối với mục tiêu duy trì đà tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô?

Tôi cho rằng, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 245/2026/NĐ-CP về gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2026 là một quyết sách kịp thời, thiết thực, thể hiện rất rõ tinh thần Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người dân.

Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn chịu tác động từ biến động thị trường thế giới, chi phí vốn, chi phí nguyên vật liệu, áp lực cạnh tranh và yêu cầu phục hồi tăng trưởng, việc giãn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất giúp doanh nghiệp có thêm “khoảng thở” về tài chính. Dòng tiền được giữ lại trong một thời gian nhất định có thể trở thành nguồn lực quan trọng để doanh nghiệp tiếp tục sản xuất, không phải thu hẹp quy mô hoặc cắt giảm lao động vì thiếu thanh khoản tạm thời.

Về phương diện vĩ mô, chính sách này góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào môi trường điều hành. Khi doanh nghiệp thấy Nhà nước lắng nghe và có phản ứng chính sách nhanh, họ sẽ mạnh dạn hơn trong duy trì kế hoạch sản xuất, đầu tư, tuyển dụng và mở rộng thị trường. Niềm tin thị trường là một yếu tố rất quan trọng đối với tăng trưởng, bởi trong nhiều thời điểm, khó khăn không chỉ nằm ở chi phí hay đơn hàng, mà còn ở tâm lý thận trọng, phòng thủ của doanh nghiệp.

nguyen-thi-viet-nga.jpeg
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga. Ảnh: NVCC

Tôi cũng đánh giá cao việc chính sách được thiết kế theo hướng không tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế, tiền thuê đất được gia hạn trong thời gian gia hạn. Quy định này giúp chính sách đi vào thực chất, tránh tình trạng doanh nghiệp được gia hạn về hình thức nhưng vẫn lo phát sinh chi phí tài chính.

- Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, theo bà, việc gia hạn thuế và tiền thuê đất sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc kích thích đầu tư, sản xuất và tiêu dùng?

Trong điều hành kinh tế, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, chúng ta cần đồng thời thúc đẩy cả 3 động lực đầu tư, sản xuất và tiêu dùng. Chính sách gia hạn thuế và tiền thuê đất có tác động tích cực đến cả 3 khu vực này, bởi nó trực tiếp cải thiện dòng tiền của doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh.

Trước hết, đối với sản xuất, dòng tiền là yếu tố sống còn. Một doanh nghiệp có thị trường, có đơn hàng nhưng thiếu dòng tiền ngắn hạn vẫn có thể gặp khó khăn trong vận hành. Khi được gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp hoặc tiền thuê đất, doanh nghiệp có thêm nguồn lực để mua nguyên vật liệu, duy trì máy móc, chi trả lương, giữ chân lao động và bảo đảm tiến độ hợp đồng. Đây là tác động rất thực chất, nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh - những khu vực thường có năng lực tài chính hạn chế hơn, dễ bị tổn thương hơn trước biến động thị trường.

Thứ hai, đối với đầu tư, chính sách gia hạn nghĩa vụ tài chính giúp giảm áp lực vốn lưu động, từ đó tạo điều kiện để doanh nghiệp không phải trì hoãn các kế hoạch cải tiến công nghệ, mở rộng mặt bằng, nâng cấp dây chuyền hoặc phát triển sản phẩm mới. Dù đây không phải là một gói cấp vốn trực tiếp, nhưng về bản chất, việc được giữ lại một phần dòng tiền trong vài tháng có tác dụng như một nguồn vốn lưu động không lãi suất trong ngắn hạn. Trong nhiều trường hợp, chỉ cần tháo gỡ được áp lực dòng tiền đúng thời điểm, doanh nghiệp đã có thể duy trì hoạt động và nắm bắt cơ hội thị trường.

Thứ ba, đối với tiêu dùng, khi doanh nghiệp duy trì được sản xuất, việc làm và thu nhập của người lao động sẽ ổn định hơn. Thu nhập ổn định là nền tảng để duy trì sức mua trong nền kinh tế. Đây là mối liên hệ gián tiếp nhưng rất quan trọng: Hỗ trợ doanh nghiệp cũng chính là hỗ trợ việc làm, hỗ trợ thu nhập và qua đó hỗ trợ tiêu dùng trong nước. Đối với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, trong bối cảnh xuất khẩu có thể chịu tác động từ thị trường quốc tế, việc củng cố sức cầu trong nước càng có ý nghĩa.

Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả cao nhất, tôi cho rằng cần đặc biệt chú trọng khâu tổ chức thực hiện. Thủ tục phải đơn giản, hướng dẫn phải rõ ràng, hệ thống thuế điện tử phải thuận tiện, tránh để doanh nghiệp mất thêm chi phí tuân thủ. Chính sách tốt nhưng thủ tục phức tạp thì hiệu quả hỗ trợ sẽ bị giảm đi. Vì vậy, cơ quan thuế các cấp cần chủ động truyền thông, hướng dẫn, hỗ trợ người nộp thuế tiếp cận chính sách nhanh nhất, đúng nhất và minh bạch nhất.

Hỗ trợ đúng lúc chính là nuôi dưỡng nguồn thu bền vững

- Việc gia hạn thời hạn nộp thuế có thể ảnh hưởng đến tiến độ thu ngân sách trong ngắn hạn. Theo bà, cần điều hành chính sách tài khóa như thế nào để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa bảo đảm an toàn tài chính quốc gia?

Đúng là việc gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất có thể làm dịch chuyển tiến độ thu ngân sách trong ngắn hạn. Tuy nhiên, cần nhìn nhận đây không phải là giảm thu vĩnh viễn, mà là điều chỉnh thời điểm thu. Do đó, vấn đề quan trọng nhất là phải điều hành ngân sách chủ động, linh hoạt, có dự báo tốt về dòng tiền ngân sách và bảo đảm cân đối thu - chi trong từng thời điểm.

z7993376664543_911c26d9744c0b47321ce177e51fa762.jpg
Chính sách gia hạn nghĩa vụ tài chính giúp doanh nghiệp có dòng tiền để mở rộng đầu tư. Ảnh: VH

Theo tôi, để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, cần thực hiện đồng bộ một số yêu cầu:

Thứ nhất, phải tính toán kỹ tác động dòng tiền ngân sách theo tháng, theo quý, theo từng cấp ngân sách. Khi gia hạn thuế, số thu không mất đi nhưng sẽ lùi lại. Vì vậy, cơ quan tài chính cần có kịch bản điều hành ngân quỹ phù hợp, tránh bị động trong chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi an sinh xã hội và các nhiệm vụ cấp bách khác.

Thứ hai, hỗ trợ tài khóa phải có trọng tâm, trọng điểm. Gia hạn thuế là chính sách cần thiết, nhưng cần bảo đảm đúng đối tượng, đúng phạm vi, tránh dàn trải hoặc tạo kẽ hở cho lợi dụng chính sách. Những khu vực chịu áp lực lớn về dòng tiền, có vai trò tạo việc làm, duy trì sản xuất, đóng góp vào chuỗi cung ứng và phục hồi tăng trưởng cần được ưu tiên. Đồng thời, cần tăng cường hậu kiểm, quản lý rủi ro về thuế, bảo đảm người nộp thuế được hưởng chính sách đúng quy định.

Thứ ba, phải gắn chính sách hỗ trợ với kỷ luật tài khóa. Trong khi gia hạn thuế để hỗ trợ doanh nghiệp, Nhà nước vẫn cần tiếp tục quản lý chặt chẽ chi ngân sách, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên chưa thật sự cần thiết, nâng cao hiệu quả chi đầu tư công, chống thất thoát, lãng phí, chuyển giá, trốn thuế, gian lận hoàn thuế. Điều hành tài khóa không chỉ là tăng hay giảm thu - chi, mà còn là nâng cao chất lượng từng đồng ngân sách.

Thứ tư, cần phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Chính sách gia hạn thuế giúp doanh nghiệp giảm áp lực dòng tiền, nhưng nếu lãi suất, tín dụng, tỷ giá và thị trường vốn không được điều hành ổn định thì hiệu quả hỗ trợ sẽ bị hạn chế. Do đó, chính sách tài khóa phải được đặt trong tổng thể điều hành kinh tế vĩ mô, bảo đảm kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, duy trì niềm tin của nhà đầu tư và doanh nghiệp.

Thứ năm, phải theo dõi sát khả năng phục hồi của nền kinh tế để điều chỉnh chính sách kịp thời. Nếu doanh nghiệp phục hồi tốt, số thu ngân sách sẽ quay trở lại thông qua tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng việc làm và mở rộng cơ sở thu. Ngược lại, nếu doanh nghiệp suy yếu, nguồn thu ngân sách về trung và dài hạn cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy, hỗ trợ đúng lúc cho doanh nghiệp cũng chính là nuôi dưỡng nguồn thu bền vững cho ngân sách Nhà nước.

- Từ góc độ lập pháp, theo bà, có cần nghiên cứu xây dựng một cơ chế hỗ trợ tài khóa linh hoạt, có tính tự động kích hoạt khi nền kinh tế gặp khó khăn, thay vì ban hành từng nghị định theo từng năm?

Từ góc độ lập pháp, tôi cho rằng đây là vấn đề rất đáng nghiên cứu. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, khi nền kinh tế gặp khó khăn do dịch bệnh, suy giảm thị trường, đứt gãy chuỗi cung ứng, thiên tai hoặc biến động kinh tế toàn cầu, Chính phủ thường phải ban hành các chính sách hỗ trợ tài khóa theo từng thời điểm, từng năm. Cách làm này có ưu điểm là linh hoạt, sát với tình hình thực tế, nhưng cũng có hạn chế là phụ thuộc nhiều vào quy trình ban hành chính sách hằng năm, đôi khi chưa tạo được tính dự báo cao cho doanh nghiệp.

Vì vậy, về lâu dài, có thể nghiên cứu xây dựng một khuôn khổ pháp lý về cơ chế hỗ trợ tài khóa linh hoạt, có điều kiện kích hoạt rõ ràng khi nền kinh tế hoặc một số khu vực sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn. Cơ chế này không có nghĩa là tự động hỗ trợ trong mọi trường hợp, càng không phải là nới lỏng tài khóa thiếu kiểm soát, mà là thiết kế sẵn nguyên tắc, tiêu chí, thẩm quyền, phạm vi, thời hạn và cơ chế giám sát để khi cần có thể triển khai nhanh hơn, minh bạch hơn.

Chẳng hạn, pháp luật có thể quy định một số chỉ báo làm căn cứ xem xét kích hoạt chính sách như tốc độ tăng trưởng suy giảm mạnh so với mục tiêu, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tăng đột biến, một số ngành chịu tác động bất thường, thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng thị trường xuất khẩu hoặc đứt gãy chuỗi cung ứng. Khi các điều kiện này xuất hiện, Chính phủ có thể được trao thẩm quyền áp dụng một số biện pháp tài khóa trong khung đã được Quốc hội cho phép, như gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất; giãn tiến độ một số nghĩa vụ tài chính hoặc áp dụng chính sách hỗ trợ có mục tiêu đối với khu vực bị ảnh hưởng nặng.

Điều quan trọng là cơ chế này phải đi kèm giới hạn an toàn. Cần xác định rõ trần thời gian gia hạn, phạm vi đối tượng, nguyên tắc không làm mất cân đối lớn ngân sách nhà nước, trách nhiệm báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ chế công khai minh bạch và hậu kiểm. Có như vậy mới bảo đảm chính sách vừa nhanh, vừa đúng thẩm quyền, vừa không tạo rủi ro cho kỷ luật ngân sách.

Tôi cũng cho rằng, việc xây dựng cơ chế tài khóa linh hoạt cần đặt trong tổng thể cải cách hệ thống pháp luật về ngân sách, thuế, phí, lệ phí và quản lý thu. Nền kinh tế càng phát triển, mức độ biến động càng cao thì chính sách tài khóa càng cần khả năng phản ứng nhanh. Nhưng phản ứng nhanh phải dựa trên pháp luật, trên dữ liệu và trên cơ chế giám sát chặt chẽ.

Ở góc độ Quốc hội, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng trao đủ công cụ cho Chính phủ điều hành linh hoạt, nhưng đồng thời bảo đảm vai trò giám sát tối cao của Quốc hội đối với ngân sách nhà nước và an toàn tài chính quốc gia. Nếu thiết kế tốt, một cơ chế hỗ trợ tài khóa có tính tự động kích hoạt sẽ giúp chính sách không bị động, doanh nghiệp có khả năng dự báo tốt hơn, còn Nhà nước vẫn giữ được kỷ luật tài khóa và sự ổn định của nền kinh tế.

- Trân trọng cảm ơn bà!