Gần 2,1 triệu cán bộ, đảng viên tham dự quán triệt, triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Sáng 30-6, tại Nhà Quốc hội (Thủ đô Hà Nội), Bộ Chính trị tổ chức hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8-6-2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Dự hội nghị tại điểm cầu Trung ương có đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.
Cùng dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng và lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể trung ương...
Đại biểu thành phố Hà Nội dự tại điểm cầu Trung ương có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Trần Đức Thắng; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Vũ Đại Thắng.
Hội nghị được kết nối từ điểm cầu Nhà Quốc hội tới hơn 35.000 điểm cầu trong cả nước là các Tỉnh ủy, Thành ủy, Đảng ủy trực thuộc Trung ương; các ban, bộ, ngành, đơn vị Trung ương và các điểm cầu cấp cơ sở trên cả nước, với gần 2,1 triệu cán bộ, đảng viên tham dự.
Hội nghị được phát trực tiếp trên các kênh của Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các nền tảng số để nhân dân cả nước theo dõi.


Dự tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội có các đồng chí: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Trọng Đông; Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Phùng Thị Hồng Hà; Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Phong; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy; Thường trực HĐND, UBND thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố...
Đến năm 2030, thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký
Mở đầu hội nghị, các đại biểu đã xem phim với chủ đề: “40 năm thu hút đầu tư nước ngoài”.
Tiếp đó, đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ truyền đạt nội dung Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8-6-2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo đó, sau gần 40 năm thực hiện chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng, huy động trên 549 tỷ USD vốn đăng ký với hơn 46.000 dự án còn hiệu lực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng hội nhập và nâng cao vị thế của đất nước. Tuy nhiên, trước bối cảnh khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh cùng sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng và dòng vốn toàn cầu, mô hình phát triển hiện nay đã bộc lộ những hạn chế, đòi hỏi tư duy phát triển mới.
Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững. Trọng tâm không còn là số lượng dự án hay quy mô vốn, mà là chất lượng dòng vốn, giá trị gia tăng, khả năng chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Nghị quyết xác định sáu chuyển đổi lớn về tư duy phát triển, trong đó nổi bật là chuyển từ thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; từ ưu tiên quy mô sang chất lượng, hiệu quả; từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả; từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư; đồng thời tăng cường điều phối phát triển ở tầm quốc gia và phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế.
Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu tạo chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD; 70-75% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển, trên 50% tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trước năm 2030.
Để hiện thực hóa các mục tiêu, Nghị quyết đề ra bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm đổi mới nhận thức; hoàn thiện thể chế; phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng; thu hút đầu tư thế hệ mới; nâng cao hiệu quả liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước; phát triển thị trường vốn và đầu tư gián tiếp; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nghị quyết cũng yêu cầu các cấp, các ngành khẩn trương cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động, bảo đảm triển khai đồng bộ, hiệu quả, phát huy tối đa nguồn lực quốc tế gắn với nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Tiếp đó, hội nghị đã nghe các tham luận của các Tỉnh ủy, Thành ủy và các doanh nghiệp FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) tiêu biểu về đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, doanh nghiệp trong nước triển khai tốt liên kết với doanh nghiệp FDI.
Các tham luận đã làm rõ các kết quả đạt được và các giải pháp triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8-6-2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian tới.
Xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm hội tụ nhân tài

Tham luận tại hội nghị với chủ đề: "Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tạo nền tảng thu hút đầu tư vào lĩnh vực khoa học, công nghệ, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số", Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng nhấn mạnh, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị thể hiện quan điểm mới của Đảng về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển từ mục tiêu thu hút vốn đơn thuần sang thu hút có chọn lọc, lấy chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại và hiệu quả lan tỏa làm tiêu chí chủ yếu; qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.
Đối với Hà Nội, việc quán triệt và triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hà Nội xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, đồng thời góp phần xây dựng nền tảng nhân lực, tri thức và đổi mới sáng tạo cho vùng Thủ đô và cả nước. Với các lợi thế về quy mô thị trường, vị trí địa kinh tế hệ thống kết cấu hạ tầng đang được đầu tư mạnh mẽ, khả năng hội tụ đầy đủ các cấu phần của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thành phố đã chủ động triển khai các chủ trương của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW, Luật Thủ đô năm 2026 và các định hướng lớn trong Quy hoạch Thủ đô.
Đặc biệt, qua Hội nghị công bố Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và xúc tiến đầu tư năm 2026 đã cho thấy niềm tin, sự quan tâm và kỳ vọng lớn của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và quốc tế đối với Hà Nội. “Qua tiếp xúc, trao đổi với các nhà đầu tư, thành phố nhận thấy điều các doanh nghiệp công nghệ quan tâm không chỉ là hạ tầng, mặt bằng hay chính sách ưu đãi, mà là khả năng tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường nghiên cứu phát triển, năng lực kết nối với trường đại học, viện nghiên cứu và khả năng triển khai các mô hình mới”, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng nhấn mạnh.

Theo đồng chí Vũ Đại Thắng, từ thực tiễn triển khai cho thấy, vẫn còn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của doanh nghiệp; liên kết giữa Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp chưa thật sự trở thành cơ chế vận hành thường xuyên, thực chất. Hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ… trong một số lĩnh vực chiến lược còn chưa tương xứng với tiềm năng của Thủ đô. Từ nhận thức đó, Hà Nội xác định tập trung vào năm định hướng lớn:
Một là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi trong thu hút FDI thế hệ mới.
Hai là, đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của doanh nghiệp FDI và các ngành công nghệ chiến lược.
Ba là, phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo theo mô hình mạng lưới mở, tạo nền tảng thu hút các trung tâm R&D và các dự án FDI công nghệ cao.
Bốn là, phát triển mạnh nguồn nhân lực số, coi đây là điều kiện nền tảng để thu hút đầu tư vào chuyển đổi số và kinh tế số.
Năm là, xây dựng Hà Nội trở thành nơi hội tụ nhân tài, công nghệ và đổi mới sáng tạo của khu vực.

“Trong kỷ nguyên phát triển mới, nguồn nhân lực chất lượng cao chính là "hạ tầng mềm" quan trọng nhất của mỗi quốc gia và mỗi địa phương. Với vị thế và trách nhiệm của Thủ đô, Hà Nội cam kết tiếp tục tiên phong triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm hội tụ nhân tài, nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo của cả nước, đóng góp thiết thực vào mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến của các dòng vốn đầu tư chất lượng cao và các ngành công nghiệp chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới”, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng khẳng định.
Kiến tạo hệ sinh thái mới để đón dòng vốn FDI thế hệ mới
Các tham luận tại hội nghị đều thống nhất, để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết số 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy thu hút vốn sang kiến tạo môi trường đầu tư hiện đại, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.
Tham luận tại hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh cho biết, sau hợp nhất, Đà Nẵng có diện tích khoảng 11.860km², dân số trên 3 triệu người, sở hữu hệ thống hạ tầng chiến lược đồng bộ với hai sân bay quốc tế, cảng biển nước sâu và mạng lưới logistics. Đây là nền tảng để thành phố phát triển thành cực tăng trưởng quốc gia, trung tâm tài chính quốc tế, đổi mới sáng tạo, logistics và dịch vụ chất lượng cao.

Để thu hút dòng vốn chất lượng cao, Đà Nẵng tập trung phát triển Khu thương mại tự do theo mô hình thế hệ mới, quy mô khoảng 1.881ha với 7 khu chức năng, gắn với Cảng Liên Chiểu, Khu công nghệ cao và Trung tâm tài chính quốc tế; đồng thời định hướng mở rộng không gian phát triển, tăng cường kết nối hạ tầng và logistics.
Theo ông Hồ Kỳ Minh, thành phố chuyển mạnh từ thu hút đầu tư theo số lượng sang lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và các ngành có giá trị gia tăng cao. Giai đoạn 2021-2025, Đà Nẵng thu hút hơn 2,07 tỷ USD vốn FDI; lũy kế có 1.133 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 10,94 tỷ USD. 6 tháng đầu năm 2026, thành phố thu hút gần 358 triệu USD.
Thời gian tới, Đà Nẵng ưu tiên các dự án về bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, công nghệ sinh học, năng lượng sạch, logistics thông minh và kinh tế số; đồng thời xây dựng hệ sinh thái đầu tư đồng bộ, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát huy vai trò liên kết vùng. Thành phố kiến nghị Trung ương tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho Khu thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế và tăng cường phân cấp, phân quyền nhằm tạo điều kiện thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Trong khi đó, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Được cho biết, FDI thế hệ mới không chỉ tìm kiếm chi phí thấp hay ưu đãi thuế mà chúng ta phải tạo ra một môi trường đầu tư thế hệ mới. Môi trường đó bao gồm đất đai, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay hay ưu đãi đầu tư và phải bao gồm thị trường vốn, hệ thống tài chính hiện đại, dịch vụ tài chính quốc tế, cơ chế bảo vệ nhà đầu tư, cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, hạ tầng dữ liệu, hạ tầng số và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong yêu cầu đó, Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) có vai trò đặc biệt quan trọng. VIFC-HCMC là một nền tảng thể chế mới để Việt Nam nâng cấp phương thức thu hút FDI; là nơi kết nối dòng vốn quốc tế với các dự án, doanh nghiệp, ngành nghề và không gian phát triển mới của đất nước.
Nêu một số nội dung để thu hút dòng vốn chất lượng cao thế hệ mới, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh, thông qua Trung tâm tài chính quốc tế, thành phố sẽ tập trung thu hút các quỹ đầu tư, công ty quản lý tài sản, ngân hàng đầu tư, công ty chứng khoán, công ty fintech và các định chế tài chính quốc tế đến đặt hiện diện, triển khai hoạt động và đồng hành với các dự án phát triển tại Việt Nam
Cùng với đó, VIFC-HCMC phải góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam là điểm đến an toàn, minh bạch và có năng lực cạnh tranh cao. Mặt khác, VIFC-HCMC sẽ mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận các nguồn vốn toàn cầu với chi phí hợp lý, đồng thời giúp doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế.
Thành phố Hồ Chí Minh cam kết triển khai VIFC-HCMC với tinh thần chủ động, quyết liệt, sáng tạo và trách nhiệm cao nhất; lấy hiệu quả thực chất làm thước đo; lấy niềm tin của nhà đầu tư làm tài sản quan trọng; lấy an toàn hệ thống làm nguyên tắc vận hành; và lấy đóng góp cho sự phát triển của đất nước làm mục tiêu cao nhất.
Tham luận tại hội nghị, ông Takuya Sahashi, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ đối với Nghị quyết số 10-NQ/TW và đánh giá cao định hướng thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao, thúc đẩy công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.
Theo ông Takuya Sahashi, trong hơn 30 năm qua, các doanh nghiệp Nhật Bản đã đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất như thiết bị vận tải, điện tử, máy móc công nghiệp; đồng thời chú trọng chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và hệ thống nhà cung ứng. Nhờ đó, tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều lĩnh vực được nâng lên, trong đó ngành công nghiệp xe máy đạt trên 95%. Kết quả này có được nhờ quá trình hướng dẫn kỹ thuật theo tiêu chuẩn chất lượng, tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp FDI với nhà cung ứng trong nước và đẩy mạnh kết nối doanh nghiệp.
Ông Takuya Sahashi cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết số 10-NQ/TW, cần tiếp tục nâng cao năng lực của các nhà cung ứng trong nước, phát triển các ngành công nghiệp vật liệu, linh kiện, đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Ông Takuya Sahashi kiến nghị tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng, tăng cường kết nối doanh nghiệp, đơn giản hóa các chương trình hỗ trợ và đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực. Đồng thời khẳng định, các doanh nghiệp Nhật Bản cam kết tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam thông qua đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu của Nghị quyết số 10-NQ/TW.
Khuyến nghị một số nội dung để Việt Nam thu hút hiệu quả vốn đầu tư và trở thành điểm đến có sức thu hút lớn trong tương lai, ông Michael Kokalari, Chuyên gia kinh tế trưởng, Quỹ đầu tư Vinacapital cho rằng, cần tiếp tục phát triển các dự án đầu tư hạ tầng, trong đó, các nhà đầu tư sẵn sàng đồng hành với Việt Nam. Bên cạnh đó, cần chóng nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam, đưa trung tâm tài chính quốc tế sớm đi vào vận hành để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài…
Hành động quyết liệt hơn, nhanh hơn và thực chất hơn trong tư duy về đầu tư nước ngoài
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8-6-2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Bộ Chính trị ban hành trên cơ sở tổng kết gần 40 năm thực hiện chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng. Đây là nghị quyết thể hiện sự thay đổi trong tư duy phát triển, không còn thuần túy mở cửa đón nhận dòng vốn mà đã chủ động lựa chọn và sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia; làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế.

Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đặt ra những mục tiêu và yêu cầu cao hơn: Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
Để đạt được những mục tiêu cao này, đòi hỏi phải nhận thức sâu sắc toàn bộ nội dung Nghị quyết để hành động quyết liệt hơn, nhanh hơn và thực chất hơn trong tư duy về đầu tư nước ngoài.
Trong triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW phải gắn chặt với Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, nhất là Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương cần tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trọng tâm:
Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và phát triển với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác. Chúng ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết đầu tư lâu dài, kinh doanh thành công tại Việt Nam. Đồng thời cũng phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bộ, ngành phải rà soát đồng bộ các quy định liên quan đến đầu tư kinh doanh và thị trường, kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, các địa phương. Không để nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều cửa, mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp. Các cơ quan nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và phục vụ doanh nghiệp. Không chỉ giải quyết thủ tục nhanh hơn mà phải giúp cho nhà đầu tư dự báo được chính sách, nhìn rõ được triển vọng và yên tâm đầu tư dài hạn.
Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải được hỗ trợ tương xứng. Ngược lại, những dự án chậm triển khai, sử dụng đất lãng phí, gây ô nhiễm, chuyển giá, vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng cam kết phải xử lý nghiêm. Tùy theo mức độ vi phạm, nếu cần thiết thì có thể thu hồi ưu đãi, thu hồi đất hoặc chấm dứt dự án.

Thứ tư, phải phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của nghị quyết. Các bộ, ngành, địa phương không chỉ mời gọi các tập đoàn nước ngoài mà phải đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng của họ. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà cung ứng, tăng cường kết nối FDI với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực tài chính, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Doanh nghiệp FDI cần công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và cơ hội hợp tác. Các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam phải đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Không có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, kỹ thuật viên và nhà quản trị giỏi thì không thể thu hút đầu tư, giữ chân các dự án công nghệ cao, không thể chuyển từ gia công lắp ráp sang thiết kế nghiên cứu, sản xuất sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Các địa phương có khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao cần chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu của ngành, của liên kết và các dự án chiến lược. Phải tạo được điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.
Thứ sáu, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Muốn thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do hay nhà máy hiện đại, phải có điện ổn định, năng lượng sạch, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái và môi trường sống tốt cho chuyên gia và lao động. Phải coi hạ tầng là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Các địa phương không thể tiếp tục phát triển khu công nghiệp may mặc, dàn trải, thiếu liên kết, thiếu nhà ở cho công nhân, dịch vụ xã hội, đào tạo nghề, thiếu liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư. Không tiếp cận tràn lan mà phải gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ, làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. Cần xác định rõ đối tác cần mời, ngành cần thu hút, địa điểm dự án và các điều kiện cần chuẩn bị về đất đai, điện, hạ tầng, nhân lực, chính sách và các nhà cung ứng. Phải đồng hành với nhà đầu tư từ khi tìm hiểu đến triển khai vận hành và mở rộng. Hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện khuyến khích để các nhà đầu tư mở rộng đầu tư, giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển về nước. Cần cơ cấu lại năng lực và nâng cao năng lực của cơ quan xúc tiến đầu tư cả ở Trung ương và các địa phương.
Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Nghị quyết số 10-NQ/TW không chỉ đặt vấn đề về FDI mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn, nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, các trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà phải trở thành nơi huy động, phân bổ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính, công nghệ đổi mới sáng tạo cho khu vực. Quá trình này phải gắn với an ninh tài chính, an toàn hệ thống, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro về dòng vốn, rửa tiền, đầu cơ, thao túng thị trường.
“Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải là một quốc gia có chiến lược, có lựa chọn, có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra các giá trị mới. Chúng ta hoan nghênh các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam làm ăn lâu dài, tuân thủ pháp luật, tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động, cộng đồng và đất nước; cùng chia sẻ công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao vị thế Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh.
Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc khẳng định sẽ nghiêm túc tiếp thu chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và khẩn trương cụ thể hóa thành Kế hoạch hành động của Chính phủ; xác định rõ nhiệm vụ, rõ cơ quan chủ trì, rõ thời hạn, rõ sản phẩm đầu ra, rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương; lấy kết quả thực hiện làm thước đo, tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá bằng kết quả thực chất nhằm đưa Nghị quyết số 10-NQ/TW nhanh chóng đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến thực chất trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường, hội nhập sâu rộng, phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.