Sân khấu truyền thống trong dòng chảy công nghiệp văn hóa
Tối 26-6, từ 19h đến 20h, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện Chương trình “Hà Nội chuyển động” với chủ đề “Sân khấu truyền thống trong dòng chảy công nghiệp văn hóa”.
Khi nhắc đến công nghiệp văn hóa, nhiều người thường nghĩ ngay đến điện ảnh, âm nhạc hay các nền tảng số đang phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, bên cạnh những lĩnh vực mới, sân khấu - một loại hình nghệ thuật lâu đời gắn bó với đời sống tinh thần của nhiều thế hệ cũng đang đứng trước những cơ hội chuyển mình và phát triển trong bối cảnh mới.
Từ chèo, tuồng, cải lương đến múa rối, xiếc hay các loại hình sân khấu đương đại, Hà Nội đang sở hữu một kho tàng nghệ thuật phong phú và đặc sắc. Không chỉ mang giá trị văn hóa, lịch sử và bản sắc dân tộc, nhiều loại hình sân khấu còn có tiềm năng trở thành những sản phẩm văn hóa, du lịch hấp dẫn, góp phần tạo nên sức hút riêng của Thủ đô trong dòng chảy công nghiệp văn hóa.
Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo ngày càng phát triển, làm thế nào để sân khấu truyền thống vừa gìn giữ được những giá trị cốt lõi, vừa tiếp cận được công chúng mới, đặc biệt là giới trẻ, đồng thời tạo ra những giá trị kinh tế bền vững? Đây cũng là câu chuyện mà Chương trình Hà Nội chuyển động hôm nay cùng các vị khách mời trao đổi với chủ đề: “Sân khấu truyền thống trong dòng chảy công nghiệp văn hóa”.
Tham gia Chương trình tại Trường quay S1 của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội có TS.NSƯT Bùi Như Lai, Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội và TS Trần Thị Minh Thu, Trưởng ban Nghiên cứu Nghệ thuật, Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam.

Giá trị trường tồn trong không gian văn hóa Hà Nội
TS.NSƯT Bùi Như Lai cho rằng, giá trị cốt lõi giúp nghệ thuật truyền thống vẫn giữ được sức sống và vị trí riêng trong đời sống văn hóa hiện nay bởi đây là một “di sản sống”. Gọi là “di sản sống” bởi những giá trị ấy vẫn đang tồn tại, vẫn có nhịp thở của đời sống đương đại và chưa bao giờ ngừng vận động.
Chiều dài lịch sử đã tạo nên một giá trị đặc biệt của Thủ đô. Bên cạnh đó, nghệ thuật truyền thống gắn liền với lời ca, làn điệu, góp phần nuôi dưỡng đời sống tinh thần của người Việt. Như câu nói quen thuộc: “Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn”, những giá trị ấy vẫn luôn hiện hữu trong đời sống của người dân Hà Nội.

Theo TS.NSƯT Bùi Như Lai, Hà Nội không chỉ có hệ thống nhà hát mà còn đang mở rộng các không gian biểu diễn để gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa. Những địa điểm như Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám hay Di tích Nhà tù Hỏa Lò đang trở thành những không gian biểu diễn sân khấu sống động, vừa phục vụ người dân, đặc biệt là giới trẻ, vừa tạo sức hút đối với du khách.
Rất ít Thủ đô trên thế giới có được bề dày lịch sử hơn 1.000 năm như Hà Nội. Đây là lợi thế và cũng là giá trị đặc biệt tạo nên bản sắc riêng của Thủ đô Hà Nội, mang đến cảm giác gắn bó sâu sắc, có sức ảnh hưởng lớn đối với những người đang sinh sống tại đây
TS.NSƯT Bùi Như Lai, Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội
Theo TS.NSƯT Bùi Như Lai, những giá trị của Hà Nội sẽ tiếp tục lan tỏa đến các thế hệ trẻ, giống như âm thoa không ngừng ngân vang. Chính sự kết hợp giữa chiều sâu lịch sử, không gian văn hóa và nghệ thuật sân khấu truyền thống được nuôi dưỡng trong môi trường ấy đã tạo nên một “di sản sống”, góp phần làm nên nét đặc biệt của Hà Nội và bảo đảm cho nghệ thuật truyền thống tiếp tục có sức sống trong đời sống đương đại.
Hà Nội có 5 lợi thế lớn để phát triển công nghiệp văn hóa
Theo TS Trần Thị Minh Thu, Hà Nội đang sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp văn hóa, không chỉ nhờ tiềm năng nội tại mà còn được hỗ trợ bởi hệ thống cơ chế, chính sách ngày càng hoàn thiện.

Thứ nhất là hành lang pháp lý và các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa. Nhiều văn bản quan trọng đã được ban hành, như Nghị quyết số 15 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 09 của Thành ủy Hà Nội về phát triển công nghiệp văn hóa; Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 của Thủ tướng Chính phủ...
Đặc biệt, năm 2026, Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 28 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam được đánh giá là những văn bản mang tính đột phá, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó có Hà Nội.
Thứ hai là Hà Nội gia nhập Mạng lưới các thành phố Sáng tạo của UNESCO. Điều này mở ra cơ hội hợp tác với hơn 300 thành phố trên thế giới, giúp Hà Nội học hỏi các mô hình bảo tồn, phát huy nghệ thuật truyền thống gắn với phát triển công nghiệp văn hóa; đồng thời quảng bá nghệ thuật biểu diễn, di sản văn hóa của Thủ đô thông qua các chương trình giao lưu, liên hoan quốc tế, mở rộng thị trường và khán giả.
Thứ ba là nguồn tài nguyên di sản văn hóa phong phú. Hà Nội được xem là “Thủ đô của di sản”, với gần 2.000 di sản văn hóa phi vật thể.
Thứ tư là đội ngũ văn nghệ sĩ đông đảo, tài năng. Đây chính là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển công nghiệp văn hóa.
Cuối cùng là quy mô và sức mua của thị trường tiêu dùng văn hóa. Hà Nội là địa phương có dân số đứng thứ hai cả nước, đồng thời thuộc nhóm dẫn đầu về thu nhập bình quân đầu người. Dân số đông cùng mức thu nhập cao tạo nên thị trường tiêu dùng lớn đối với các sản phẩm văn hóa sáng tạo, qua đó khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp văn hóa.
Theo TS Trần Thị Minh Thu, 5 lợi thế trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cơ chế, chính sách tạo định hướng chiến lược và hành lang pháp lý; thương hiệu “Thành phố sáng tạo” giúp Hà Nội mở rộng kết nối quốc tế; nguồn nhân lực và tài nguyên di sản là trụ cột của công nghiệp văn hóa; còn thị trường tiêu dùng văn hóa sẽ tạo động lực thu hút doanh nghiệp đầu tư, thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực này.
Nghệ thuật không thể đứng ngoài làn sóng kinh tế số, chuyển đổi số
Trả lời câu hỏi trong bối cảnh thị hiếu công chúng đang thay đổi rất nhanh, đặc biệt là sự xuất hiện của các nền tảng giải trí mới, loại hình sân khấu nào đang có nhiều tiềm năng tiếp cận và thu hút khán giả trẻ, theo TS.NSƯT Bùi Như Lai, có ba yếu tố mang tính sống còn đối với bất kỳ loại hình nghệ thuật nào hiện nay là năng lực cạnh tranh, xu thế phát triển và khả năng tiếp cận khán giả trẻ.
TS.NSƯT Bùi Như Lai phân tích, thực tế nhiều năm qua cho thấy, từ làn sóng nhạc trẻ, rock cho đến hàng loạt xu hướng biểu diễn mới đều phải liên tục cạnh tranh khốc liệt để tồn tại. Điều này đặt ra một bài toán lớn: Sân khấu truyền thống phải cạnh tranh thế nào để phát triển? Đây là câu chuyện mà ngành Văn hóa Hà Nội nói riêng và các thành phố lớn tại Việt Nam nói chung đều đang phải đối mặt.
Theo TS.NSƯT Bùi Như Lai, nghệ thuật không thể đứng ngoài làn sóng bùng nổ của xã hội số, kinh tế số và chuyển đổi số. Trước đại dịch, ít ai hình dung đến việc thưởng thức một tác phẩm sân khấu truyền thống qua màn hình, hay việc nghệ sĩ biểu diễn trước máy quay rồi phát lại; điều đó từng có nhưng chưa bao giờ là xu thế. Tuy nhiên, khi dịch bệnh bùng phát, toàn xã hội và ngành nghệ thuật biểu diễn buộc phải chuyển dịch sang không gian trực tuyến.
Hậu đại dịch, giới làm nghề đã đúc kết được một hướng đi hiệu quả để tiếp cận công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Trong bối cảnh điện thoại thông minh gần như trở thành vật bất ly thân của người trẻ, các nền tảng số chính là kênh tiếp cận không thể bỏ qua. Các nhà hát và đơn vị nghệ thuật đã chủ động thay đổi tư duy, số hóa tác phẩm một cách sinh động nhằm mở rộng biên độ tiếp cận công chúng trẻ.

Dẫn chứng về kinh nghiệm của Nhật Bản với nghệ thuật kịch Nô, Kabuki hay tại Trung Quốc với Kinh kịch đã sử dụng hệ thống kỹ xảo hiện đại, sinh động tạo nên sức hút duyên dáng, mạnh mẽ của loại hình nghệ thuật truyền thống đối với thế hệ trẻ, TS.NSƯT Bùi Như Lai cho biết, tại nước ta các nhà hát đang vướng phải những rào cản nhất định về phương thức dàn dựng, sự nghèo nàn của cơ sở vật chất, cũng như việc thiếu các nghiên cứu thấu đáo về tâm lý khán giả đương đại.
Thực tế, nếu làm một khảo sát định tính đối với giới trẻ về các bộ môn tuồng, chèo, cải lương hay múa rối nước, tỷ lệ người từng tiếp cận là rất thấp. Thách thức trên buộc các nhà quản lý, các đơn vị nghệ thuật và đặc biệt là bản thân mỗi nghệ sĩ phải tự thân vận động, thay đổi tư duy để tìm kiếm những phương thức tiếp cận đa dạng, linh hoạt hơn đối với giới trẻ.
TS.NSƯT Bùi Như Lai cho rằng, khi có một chiến lược đồng bộ - nơi cơ quan quản lý nhà nước định hướng, các nhà hát chủ động thực thi và các nghệ sĩ nỗ lực sáng tạo - thì khán giả trẻ sẽ là những người được hưởng lợi nhiều nhất, đồng thời mở ra tương lai bền vững cho sân khấu truyền thống nước nhà.
Kinh nghiệm từ quốc tế trong phát triển nghệ thuật truyền thống thành sản phẩm du lịch đặc thù

Nhiều quốc gia đã thành công trong việc đưa nghệ thuật truyền thống trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc và một phần của sức mạnh mềm quốc gia. TS Trần Thị Minh Thu, Trưởng ban Nghiên cứu Nghệ thuật, Viện Văn hóa Nghệ thuật Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng, Hà Nội có thể tham khảo kinh nghiệm từ Nhật Bản và Trung Quốc.
Tại Nhật Bản, nghệ thuật truyền thống được coi là tài sản văn hóa, được khai thác để xây dựng sản phẩm du lịch, bảo đảm hai yếu tố: An sinh xã hội và gia tăng thương hiệu quốc gia nhằm thu hút ngoại tệ. Nhiều doanh nghiệp văn hóa nổi tiếng tổ chức các chương trình trình diễn kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Ở Tokyo, các sân khấu ngoài trời được phát triển, tạo không gian biểu diễn gắn với đời sống đô thị và thu hút khách du lịch.
Tại Trung Quốc, hướng tiếp cận tập trung vào phát triển du lịch gắn với nông nghiệp, y học cổ truyền, khai thác giá trị văn hóa bản địa, phong tục tập quán của từng địa phương. Qua đó tạo ra các sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc, gắn với trải nghiệm văn hóa tại chỗ.
Đáng chú ý, Trung Quốc đẩy mạnh cơ chế tư nhân hóa, tăng tính tự chủ cho các đơn vị, vận hành theo cơ chế thị trường, qua đó hình thành nhiều mô hình kinh doanh sáng tạo trong biểu diễn nghệ thuật. Loại hình “biểu diễn thực cảnh” phát triển mạnh, mang lại nguồn thu lớn cho du lịch.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng chú trọng bảo tồn kinh kịch thông qua việc khai thác hệ thống nhà hát cổ, chuyên biểu diễn các vở diễn kinh điển. Riêng các nhà hát trẻ, vừa giữ giá trị cốt lõi nghệ thuật kinh kịch vừa bảo đảm thời lượng, cách kể chuyện đáp ứng được nhu cầu của du khách phương Tây.

Từ kinh nghiệm của Nhật Bản và Trung Quốc, TS Trần Thị Minh Thu cho rằng, Hà Nội có thể vận dụng trong việc xây dựng sản phẩm du lịch từ nghệ thuật truyền thống. Thành phố cần có hành lang pháp lý và cơ chế chính sách phù hợp, đặt con người làm trung tâm, đồng thời bảo đảm sự gắn kết giữa bảo tồn di sản, an sinh xã hội và phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, cần tăng cường tự chủ cho các đơn vị nghệ thuật, đẩy mạnh hợp tác công tư, thúc đẩy xã hội hóa, qua đó phát triển các sản phẩm du lịch từ nghệ thuật truyền thống, góp phần xây dựng thương hiệu văn hóa Hà Nội.
Tháo gỡ điểm nghẽn cho sân khấu truyền thống từ chính sách
Theo TS. NSƯT Như Lai, sự thiếu hụt khán giả, khó khăn về nguồn nhân lực cùng những bất cập trong cơ chế hoạt động của các đơn vị nghệ thuật đang trở thành những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của sân khấu truyền thống.
Theo TS. NSƯT Như Lai, bài toán nguồn nhân lực của sân khấu truyền thống bắt đầu từ khó khăn trong tuyển sinh và kéo dài đến cơ chế đãi ngộ. Khi thu nhập của nghệ sĩ chưa tương xứng với cống hiến và chưa đáp ứng yêu cầu cuộc sống, việc thu hút, giữ chân người làm nghề ngày càng trở nên khó khăn, tạo ra điểm nghẽn đối với sự phát triển của sân khấu truyền thống.
Cùng với bài toán nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, chính sách đãi ngộ và cơ chế phù hợp với đặc thù nghề nghiệp cũng cần được quan tâm, hoàn thiện để tạo điều kiện cho sân khấu truyền thống phát triển bền vững.

Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã mở ra cơ hội tháo gỡ những khó khăn đối với các ngành nghề đặc thù. Đặc biệt, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt ra các định hướng, giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chế độ đãi ngộ, hỗ trợ đội ngũ văn nghệ sĩ và tạo động lực cho sự phát triển của lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.
TS. NSƯT Như Lai kỳ vọng những rào cản về cơ chế, nguồn nhân lực và điều kiện hoạt động sẽ sớm được tháo gỡ, tạo động lực để sân khấu truyền thống phát triển bền vững, tiếp tục khẳng định vị trí trong đời sống văn hóa đương đại và lan tỏa những giá trị đặc sắc của nghệ thuật dân tộc.
Ba yếu tố để thích ứng và phát triển
TS Trần Thị Minh Thu cho rằng, đưa sân khấu truyền thống đến gần hơn với khán giả trẻ là một bài toán nhiều thách thức khi loại hình nghệ thuật này đang phải cạnh tranh mạnh mẽ với các sản phẩm của ngành công nghiệp giải trí.
.jpg)
Sân khấu truyền thống cũng đang đứng trước hai thách thức lớn: Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế; đồng thời cân bằng giữa yêu cầu phát triển theo cơ chế thị trường với việc bảo tồn những giá trị cốt lõi.
Theo TS Trần Thị Minh Thu, để thích ứng và phát triển, sân khấu truyền thống cần dựa trên ba yếu tố: Truyền thống - Sáng tạo - Tiên tiến. Trong đó, truyền thống là gìn giữ những giá trị tinh hoa, hồn cốt mà cha ông đã sáng tạo và vun đắp, qua đó bảo tồn di sản, đồng thời truyền tải các giá trị lịch sử, nhân văn và thẩm mỹ đến các thế hệ.
Bên cạnh việc gìn giữ bản sắc, sân khấu truyền thống cũng cần đổi mới để phản ánh hơi thở của cuộc sống đương đại. Sự sáng tạo cần được thể hiện từ việc lựa chọn đề tài, nội dung, xây dựng hình tượng nhân vật đến cách kể chuyện và phương thức dàn dựng, qua đó giúp tác phẩm gần gũi hơn với công chúng hôm nay.
Mặt khác, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến và các phương thức biểu đạt hiện đại cũng là yêu cầu cần thiết nhằm mở rộng không gian sáng tạo, tăng sức hấp dẫn về thị giác và thính giác, đặc biệt đối với khán giả trẻ.
Múa rối Thăng Long giữ lửa giữa dòng chảy hiện đại
Với kỷ lục 365 ngày sáng đèn mỗi năm, Nhà hát Múa rối Thăng Long không chỉ là điểm đến quen thuộc của khán giả Thủ đô mà còn là địa chỉ văn hóa hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế. Thành công ấy được tạo nên từ sự kết hợp giữa tư duy quản lý đổi mới, chiến lược phát triển phù hợp và tâm huyết của những nghệ sĩ ngày đêm giữ lửa cho nghệ thuật truyền thống.
NSƯT Võ Thùy Dương, Phó Trưởng đoàn 1, Nhà hát Múa rối Thăng Long cho rằng, yếu tố quan trọng nhất tạo nên sức hút của nhà hát chính là việc gìn giữ nguyên vẹn bản sắc nghệ thuật múa rối truyền thống. Những con rối gỗ mộc mạc, giản dị, đôi khi ngộ nghĩnh lại chính là điểm chạm đến cảm xúc của người xem. Quan trọng hơn, thông qua mỗi chương trình biểu diễn, khán giả có cơ hội hiểu thêm về đời sống văn hóa, phong tục tập quán và tâm hồn của người Việt Nam.

“Sau mỗi chương trình biểu diễn, điều chúng tôi mong muốn nhất là khán giả hiểu thêm về đời sống văn hóa của con người Việt Nam. Đó cũng chính là giá trị cốt lõi mà nghệ thuật múa rối mang lại”, NSƯT Võ Thùy Dương chia sẻ.
Trong bối cảnh Hà Nội đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, Nhà hát Múa rối Thăng Long xác định nhiệm vụ vừa bảo tồn di sản, vừa đổi mới phương thức tiếp cận công chúng.
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng nghệ thuật, nhà hát đã xây dựng nhiều chương trình trải nghiệm dành cho khán giả. Sau khi thưởng thức biểu diễn, du khách có thể trực tiếp tham gia điều khiển con rối, tìm hiểu công việc của người nghệ sĩ và trải nghiệm cảm giác “một ngày làm nghệ sĩ múa rối”.
Đáng chú ý, Nhà hát Múa rối Thăng Long còn triển khai dự án học đường, đưa nghệ thuật múa rối vào trường học từ cấp Tiểu học đến THPT thông qua các tác phẩm văn học trong chương trình giảng dạy. Cùng với đó, nhà hát đẩy mạnh quảng bá trên các nền tảng truyền thông số nhằm lan tỏa nghệ thuật múa rối tới đông đảo công chúng trong nước và quốc tế.
Không chỉ đổi mới trong công tác quản lý và tổ chức hoạt động, sức sống của Nhà hát Múa rối Thăng Long còn đến từ những nghệ sĩ trực tiếp biểu diễn trên sân khấu.
Tự hào khi múa rối là loại hình nghệ thuật được du khách lựa chọn khi đến Việt Nam
Là người có nhiều năm gắn bó với nghệ thuật múa rối nước, nghệ sĩ Nguyễn Xuân Long cho biết, anh cảm thấy rất vui khi loại hình nghệ thuật truyền thống này ngày càng nhận được sự yêu mến của khán giả trong và ngoài nước. Sự quan tâm của du khách quốc tế đối với múa rối nước là minh chứng cho sức hấp dẫn của văn hóa Việt Nam. Đây cũng là động lực để các nghệ sĩ tiếp tục gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống mà cha ông để lại.

“Chúng tôi luôn mong muốn đưa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Múa rối nước hoàn toàn có thể trở thành một trong những loại hình nghệ thuật được du khách lựa chọn khi đến Việt Nam”, nghệ sĩ Nguyễn Xuân Long chia sẻ.
Để tiếp cận thế hệ khán giả trẻ, các nghệ sĩ của nhà hát cũng chủ động thích ứng với môi trường truyền thông hiện đại. Theo nghệ sĩ Nguyễn Xuân Long, khán giả trẻ ngày nay tiếp cận công nghệ rất nhanh, vì vậy việc quảng bá nghệ thuật trên các nền tảng số là xu hướng tất yếu.
Bản thân anh hiện duy trì các kênh TikTok và Facebook với lượng người theo dõi lớn. Thông qua mạng xã hội, nhiều khán giả trẻ biết đến nghệ thuật múa rối nước, tìm hiểu về các nghệ sĩ và từ đó đến với Nhà hát Múa rối Thăng Long.
“Chúng tôi luôn đổi mới để tiếp cận khán giả nhanh nhất, nhưng vẫn giữ nguyên những giá trị cốt lõi của nghệ thuật truyền thống. Tôi tin rằng chính các bạn trẻ sẽ là những đại sứ lan tỏa tình yêu đối với loại hình nghệ thuật độc đáo mà cha ông để lại”, nghệ sĩ Nguyễn Xuân Long nói.
Từ những nỗ lực đổi mới trong quản lý, sáng tạo trong hoạt động nghệ thuật đến sự chủ động thích ứng của đội ngũ nghệ sĩ, Nhà hát Múa rối Thăng Long đang cho thấy cách một đơn vị nghệ thuật truyền thống có thể phát triển bền vững trong dòng chảy của công nghiệp văn hóa, đồng thời tiếp tục lan tỏa những giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam đến với công chúng trong nước và quốc tế.
Hệ sinh thái sân khấu truyền thống phải đồng bộ về cơ sở vật chất, tính kết nối
Để sân khấu truyền thống thực sự trở thành một phần của công nghiệp văn hóa, TS.NSƯT Bùi Như Lai cho rằng hệ sinh thái phải bảo đảm tính đồng bộ cả về cơ sở vật chất lẫn tính kết nối - cụ thể là kết nối giữa cơ sở vật chất với khán giả.
Theo ông, khi du khách đến Hà Nội, họ không nên chỉ dừng lại ở việc tham quan phong cảnh hay di sản. Điều quan trọng là phải tạo ra tính kết nối xuyên suốt từ quá trình di chuyển cho đến việc bước vào nhà hát, thưởng thức và cảm thụ nghệ thuật.
Cùng với đó, theo TS Bùi Như Lai, đi kèm với cơ sở vật chất và hệ thống kết nối đó là công tác quảng bá. Việc quảng bá và xây dựng hình ảnh để tiếp cận khán giả chính là một trong nhiều yếu tố cốt lõi nằm trong hệ sinh thái. Có làm tốt công tác này mới tạo nên được giá trị trọn vẹn cho tác phẩm.

Đánh giá về khả năng tận dụng hiệu quả các nền tảng số trong quảng bá, xây dựng cộng đồng khán giả của các đơn vị nghệ thuật biểu diễn hiện nay, TS Trần Thị Minh Thu nhận định: Các đơn vị nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam nói chung và các đơn vị biểu diễn nghệ thuật sân khấu truyền thống nói riêng vẫn chưa thể khai thác hiệu quả nền tảng số, cũng như chưa mở rộng được thị trường khán giả.

Để làm được điều này, họ cần đáp ứng được các yếu tố, gồm: Nguồn vốn đầu tư (vốn để sản xuất, dàn dựng tác phẩm; vốn để phân phối, quảng bá tác phẩm; vốn để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị âm thanh, ánh sáng và vốn để phát triển khán giả); tài năng để tạo ra được tác phẩm hay, từ đó mới hấp dẫn được khán giả và có doanh thu.
Yếu tố tiếp theo là công nghệ để ứng dụng và phải có cả sự hiểu biết về công nghệ để vận hành. Cuối cùng là kỹ năng kinh doanh. Chúng ta có thể có vốn, có tài năng, có công nghệ, nhưng nếu không có kỹ năng kinh doanh thì không thể phát triển được thị trường. "Để tháo gỡ điểm nghẽn này, chúng ta cũng phải bắt đầu giải quyết từ chính những yếu tố nêu trên", TS Trần Thị Minh Thu nhấn mạnh.