Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh là yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp gỗ Việt
Doanh nghiệp ngành gỗ đang đối mặt với thách thức lớn từ các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu xanh hóa của thị trường Liên minh châu Âu (EU), đặc biệt là áp lực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh
Theo đánh giá của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ngành gỗ Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức khi các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về môi trường, phát thải carbon và truy xuất nguồn gốc nguyên liệu.

Điển hình là thị trường EU đang dẫn dắt xu hướng tiêu dùng xanh toàn cầu, khiến các tiêu chí về bền vững, minh bạch và trách nhiệm môi trường trở thành điều kiện bắt buộc đối với sản phẩm gỗ nhập khẩu. Dù chỉ chiếm khoảng 4,8-5,2% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam, EU vẫn là thị trường định hình những tiêu chuẩn cao nhất mà doanh nghiệp phải đáp ứng để duy trì vị thế cạnh tranh.
Bên cạnh đó, các chứng chỉ xác minh nguồn gốc lâm sản như FSC, PEFC, FSC-CoC, chứng nhận dấu chân carbon (Carbon Footprint) hay Tuyên bố Sản phẩm môi trường (EPD) ngày càng trở thành “tấm vé thông hành” để tiếp cận các hệ thống phân phối lớn tại châu Âu. Các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội như BSCI hay SMETA cũng được nhiều nhà nhập khẩu coi trọng.
EU cũng siết chặt kiểm soát đối với nguyên liệu và hóa chất sử dụng trong sản phẩm gỗ. Các loại sơn, keo dán phải đáp ứng ngưỡng phát thải formaldehyde rất thấp và không chứa các chất bị cấm theo quy định REACH. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển sang sử dụng sơn gốc nước, keo sinh học và các giải pháp sản xuất thân thiện môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu này.
Một trong những thay đổi quan trọng nhất là việc thực hiện Quy định chống phá rừng (EUDR). Theo đó, doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ dữ liệu số hóa về nguồn gốc nguyên liệu, tọa độ vùng trồng và chứng minh sản phẩm không liên quan đến hoạt động phá rừng sau ngày 31-12-2020.
Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi số đang trở thành giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp ngành gỗ nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ giúp các nhà máy cắt giảm từ 20 - 30% tỷ lệ hao hụt nguyên liệu, mà còn tăng tính minh bạch trong truy xuất nguồn gốc và góp phần bảo vệ, mở rộng thị phần xuất khẩu.
Ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho rằng: Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ xanh, trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa sẽ giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và thích ứng tốt hơn với các yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế.Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với ngành gỗ không chỉ là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, mà còn phải nâng cao năng lực thích ứng trước các biến động chính sách và thương mại quốc tế.
Cần chiến lược dài hạn để giảm phụ thuộc thị trường
Chuyên gia nhận định, khó khăn lớn nhất của ngành gỗ hiện nay không nằm ở năng lực sản xuất mà ở khả năng thích ứng với những biến động của thương mại toàn cầu.

Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, các tiêu chuẩn về môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe, doanh nghiệp không thể tiếp tục dựa quá nhiều vào một vài thị trường chủ lực.
Doanh nghiệp cũng cần tăng cường đầu tư công nghệ, nâng cao tỷ lệ sử dụng nguyên liệu có chứng chỉ bền vững, đáp ứng các yêu cầu về phát triển xanh và kinh tế tuần hoàn để nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây được xem là hướng đi quan trọng giúp ngành gỗ giảm dần sự phụ thuộc vào một thị trường đơn lẻ, từ đó nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động bên ngoài.
Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) Trần Thanh Hải cho biết: Bộ Công Thương đang phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội ngành hàng, trong đó có ngành gỗ, để theo dõi sát diễn biến thị trường, cập nhật các chính sách thương mại mới của các nước nhập khẩu và kịp thời cảnh báo rủi ro cho doanh nghiệp.
Theo đó, Cục Xuất nhập khẩu phối hợp với Cục Xúc tiến thương mại, hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài và các đơn vị liên quan đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
“Bên cạnh việc khai thác tốt các thị trường truyền thống, doanh nghiệp ngành gỗ cần đẩy mạnh tiếp cận các thị trường tiềm năng tại Trung Đông, Nam Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh; đồng thời phát triển mạnh thị trường nội địa với quy mô hơn 100 triệu dân”, ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 7,12 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2025. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm 49,2% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trung Quốc và Nhật Bản lần lượt đứng thứ hai và thứ ba với thị phần tương ứng 15,2% và 13,1%.