Doanh nghiệp tư nhân làm phim lịch sử:Biến “mỏ vàng” tiềm năng thành giá trị thương mại hấp dẫn
Điện ảnh Việt Nam đang chứng kiến một bước chuyển mình mạnh mẽ khi khu vực tư nhân ngày càng đóng vai trò chủ lực trong sản xuất và phát hành phim. Trong bức tranh ấy, dòng phim lịch sử - từng được xem là “kén khán giả”, tốn kém và nhiều rủi ro - nay đang dần trở thành một “mỏ vàng” đầy tiềm năng. Liệu doanh nghiệp tư nhân có đủ sức biến tiềm năng này thành giá trị văn hóa bền vững cho điện ảnh Việt?

Luồng sinh khí mới của điện ảnh Việt
Cuối tháng 5-2026, Tập đoàn Vingroup công bố chiến lược phát triển Công ty CP Phát triển Điện ảnh V-Film, với định hướng đầu tư dài hạn vào dòng phim tôn vinh lịch sử - văn hóa Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. Dự án mở màn cho chiến lược này là series phim về triều Trần - lấy cảm hứng từ thời kỳ Đông A rực rỡ với ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, xen lẫn những cuộc chuyển giao quyền lực đầy kịch tính và các lựa chọn làm thay đổi vận mệnh dân tộc.
Theo công bố của V-Film, dự án đã hoàn tất khâu kịch bản mùa 1 với 10 tập và đang tuyển chọn diễn viên, dự kiến khởi quay vào tháng 7-2026, ra mắt khán giả vào tháng 12-2026. Thông tin này làm nức lòng giới mộ điệu điện ảnh bởi từ lâu họ vẫn mơ ước được xem những bộ phim dã sử hoành tráng do Việt Nam sản xuất.
Trước đó, năm 2025, phim “Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên cán mốc 172,4 tỷ đồng; “Mưa đỏ” của đạo diễn Đặng Thái Huyền với 713,8 tỷ đồng, trở thành phim có doanh thu cao nhất lịch sử điện ảnh Việt. Hai kỳ tích này cho thấy phim lịch sử có thể là “mỏ vàng” nếu khai thác đúng cách.
Theo ước tính của Hội Điện ảnh Việt Nam, năm 2026 có thể có từ 80 đến 100 phim điện ảnh được phát hành và phần lớn đến từ nguồn đầu tư tư nhân. Đáng chú ý, trong dòng chảy chung ấy, phim lịch sử và chiến tranh cách mạng đang trở lại mạnh mẽ. Ông Nguyễn Văn Tân, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Điện ảnh Việt Nam cho biết: “Nếu trước đây, thể loại phim này chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước và mang tính tuyên truyền, thì nay đã có sự chuyển dịch rõ rệt về cả cách tiếp cận lẫn mục tiêu. Khoảng 26% số phim ra rạp hiện nay thuộc nhóm đề tài lịch sử - một con số cho thấy sự “hồi sinh” đáng kể của dòng phim này”.
Ngoài dự án của V-Film kể trên, có thể kể đến một số dự án nổi bật trong năm 2026 như “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh” do BHD sản xuất lấy bối cảnh cuối triều Đinh - khi Đinh Tiên Hoàng băng hà và triều đình rơi vào khủng hoảng; dự án phim “Tây Sơn thất hổ tướng” dựa trên những tư liệu có thật về 7 danh tướng dưới thời Tây Sơn của nhà sản xuất Phan Phúc; “Hoàng hậu cuối cùng” do đạo diễn Bảo Nhân - Nam Cito thực hiện, lấy cảm hứng từ thiên tình sử có thật của Hoàng hậu Nam Phương và Hoàng đế Bảo Đại...
Về đề tài chiến tranh, cách mạng, có “Đất đỏ” kể về nữ Anh hùng Võ Thị Sáu do Lê Văn Kiệt đạo diễn; “Cận kề cái chết” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên kể về cuộc vượt ngục huyền thoại của một đặc vụ trong kháng chiến chống Mỹ; “Vùng trời lửa” của đạo diễn Thanh Sơn lấy cảm hứng từ anh hùng không quân Phạm Tuân và chiến thắng 30-4-1975...
Qua rồi thời “đóng băng”
Lịch sử điện ảnh Việt cũng từng ghi dấu những bộ phim dã sử, chiến tranh cách mạng hết sức thành công. Có thể kể đến một số bộ phim dã sử như “Đêm hội Long Trì” (đạo diễn Hải Ninh), “Tây Sơn hào kiệt” (Hãng phim Lý Huỳnh), “Thăng Long đệ nhất kiếm” (đạo diễn Lê Mộng Hoàng); “Long Thành Cầm Giả Ca” (đạo diễn Đào Bá Sơn)... Ở đề tài chiến tranh, cách mạng, công chúng vẫn còn nhớ đến: “Biệt động Sài Gòn”, “Cánh đồng hoang”, “Ván bài lật ngửa”, “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”... Qua thời kỳ “vàng son” đó, phim lịch sử bước vào thời kỳ “thoái trào”, dòng phim hài, tâm lý lên ngôi tại rạp chiếu.
Song, thành công rực rỡ của “Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối”, “Mưa đỏ” gần đây đã tạo nên cú hích lớn cho giới làm phim, đồng thời thay đổi cách nhìn của giới đầu tư: Phim lịch sử có thể trở thành sản phẩm thương mại hấp dẫn.
“Sự chuyển dịch ấy phản ánh sự thay đổi trong thị hiếu khán giả, đặc biệt là giới trẻ - nhóm chiếm tới 90% lượng người mua vé. Họ không còn chỉ tìm đến những bộ phim giải trí đơn thuần, mà bắt đầu quan tâm hơn đến các giá trị lịch sử, bản sắc dân tộc và những câu chuyện có chiều sâu” - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Điện ảnh Việt Nam Nguyễn Văn Tân nhận xét.
Theo ông Nguyễn Văn Tân, một trong những giá trị lớn nhất của phim lịch sử không nằm ở doanh thu mà ở khả năng lan tỏa tinh thần dân tộc và truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ. Thông qua điện ảnh, những câu chuyện về quá khứ được kể lại một cách sống động, gần gũi và dễ tiếp nhận hơn. Khác với trước đây, phim lịch sử hiện đại không còn đi theo lối kể sử thi khô cứng, nặng tính minh họa. Thay vào đó, các nhà làm phim đã mạnh dạn đổi mới ngôn ngữ thể hiện, tập trung khai thác đời sống nội tâm nhân vật, xây dựng câu chuyện từ góc nhìn cá nhân. Chính sự “đời thường hóa” lịch sử này giúp khán giả cảm nhận rõ hơn những cảm xúc, mất mát và khát vọng của con người trong từng giai đoạn.
Đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình cũng thừa nhận: “Thành công rực rỡ của bộ phim “Mưa đỏ”, “Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối” là một cột mốc lịch sử, chứng minh rằng khán giả Việt Nam chưa bao giờ quay lưng với những câu chuyện hào hùng của dân tộc, miễn là nó được kể bằng sự chân thành và tư duy điện ảnh ấn tượng”. Ngoài ra, công nghệ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng tầm phim lịch sử. Việc ứng dụng kỹ xảo, trường quay ảo, trí tuệ nhân tạo... giúp tái hiện bối cảnh hoành tráng với chi phí tối ưu hơn. Đồng thời, các công cụ phân tích dữ liệu còn hỗ trợ nhà sản xuất hiểu rõ thị hiếu khán giả, từ đó định hướng nội dung phù hợp. Những đổi mới này không chỉ giúp phim lịch sử “dễ xem” hơn mà còn tạo ra cầu nối giữa quá khứ và hiện tại.
“Cuộc chơi” sòng phẳng của doanh nghiệp
Dẫu biết là “mỏ vàng”, nhưng các doanh nghiệp đều hiểu rằng, làm phim lịch sử sẽ là “cuộc chơi 5 ăn, 5 thua”.
Trao đổi với phóng viên, đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình cho biết, kinh phí cao và rủi ro doanh thu luôn là mối lo ngại hàng đầu đối với nhà sản xuất. “Làm phim lịch sử, dã sử tốn kém gấp 3 - 4 lần phim hiện đại vì mọi thứ từ trang phục, binh khí, đến hậu kỳ kỹ xảo đều phải làm mới hoàn toàn. Khi bỏ ra số vốn lên tới hàng chục hay đến cả trăm tỷ đồng, nhà đầu tư phải đối mặt với ranh giới mong manh giữa "bước ngoặt doanh thu" và "trắng tay". Bên cạnh đó, áp lực và sự soi xét từ dư luận cũng khiến các nhà làm phim thể loại này phải đau đầu. Khán giả Việt Nam khắt khe với từng nếp áo, chiếc mũ, hay từng câu thoại là điều hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, ranh giới giữa một bộ phim điện ảnh hư cấu mang màu sắc nghệ thuật và một tài liệu lịch sử đôi khi chưa được phân định rõ ràng trong mắt số đông, khiến các nhà làm phim đôi khi phải vừa rón rén sáng tạo, vừa lo sợ tranh cãi” - anh nói.
Vì vậy, một xu hướng dễ thấy là các đơn vị sản xuất thường bắt tay với địa phương, doanh nghiệp trong nước, hoặc hợp tác quốc tế nhằm chia sẻ rủi ro và nguồn lực khi sản xuất dòng phim này. Chẳng hạn, V-Film hợp tác với Hàn Quốc thực hiện dự án phim về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn với kinh phí hơn 500 tỷ đồng. Với phim “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh”, đơn vị sản xuất BHD và đoàn làm phim nhận được sự hỗ trợ tích cực của tỉnh Ninh Bình. Còn “Tây Sơn thất hổ tướng” của TEMC Cinema có sự hợp tác chiến lược với nhiều đối tác để xây dựng phim trường quy mô tại Khu du lịch Hầm Hô Rosa Alba; phát hành thông qua Galaxy Studio, đồng thời nhận được sự tạo điều kiện tối đa của tỉnh Gia Lai... Những cú “bắt tay” với những khoản đầu tư tới vài trăm tỷ đồng cho thấy niềm tin mạnh mẽ của giới doanh nghiệp vào mảnh đất màu mỡ này.
Song, các nhà sản xuất phim đều thừa nhận, thách thức hiện nay là việc hợp tác giữa nhà nước và tư nhân trong lĩnh vực điện ảnh vẫn còn nhiều vướng mắc, đặc biệt là trong mô hình đối tác công - tư. Dù vậy, khi khán giả mở lòng, tư nhân sẵn sàng vào cuộc, triển vọng của thể loại phim này vẫn rất rõ ràng. Và để biến “mỏ vàng” thành giá trị bền vững, cần sự hoàn thiện về cơ chế, sự đầu tư bài bản và tầm nhìn dài hạn từ cả nhà nước và doanh nghiệp. Khi đó, điện ảnh Việt không chỉ có những bộ phim kể lại lịch sử mà còn viết tiếp “thời hoàng kim” của chính mình trong kỷ nguyên mới.