Để y học cổ truyền phát huy giá trị trong dòng chảy hiện đại
Từ tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân”, “Dân ta dùng thuốc ta” của các bậc tiền nhân, y học cổ truyền đã trở thành một phần quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và là nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam.
Không chỉ là những bài thuốc, cây thuốc hay phương pháp chữa bệnh được lưu truyền qua nhiều thế hệ, y học cổ truyền còn chứa đựng kho tàng tri thức bản địa vô giá của dân tộc.
Tiềm năng từ “mỏ vàng” chưa được khai thác hết
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với nguồn tài nguyên dược liệu vô cùng phong phú và đa dạng. Theo các số liệu thống kê, nước ta sở hữu hơn 5.000 loài cây thuốc cùng kho tàng tri thức bản địa phong phú của các dân tộc. Nhiều loại cây thuốc hiện diện ngay trong đời sống thường nhật của người dân như: Dâu tằm, tía tô, lá lốt... Triết lý “dược thực đồng nguyên” (thức ăn và thuốc có chung nguồn gốc) từ lâu đã trở thành nét đặc sắc của y học cổ truyền nước ta và cho thấy tiềm năng rất lớn của nguồn dược liệu bản địa.
Tại Thủ đô Hà Nội, mạng lưới Đông y phát triển hết sức mạnh mẽ, phủ rộng từ tuyến thành phố đến cơ sở. Thành phố hiện có 5.082 hội viên Đông y, 110 đơn vị trực thuộc, cùng mạng lưới hơn 430 phòng khám, phòng chẩn trị. Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2021-2025, các cơ sở thuộc Hội Đông y Hà Nội đã khám và điều trị cho hơn 14,5 triệu lượt người, vượt gần 40% chỉ tiêu nhiệm kỳ. Những con số này là minh chứng rõ nét cho thấy nhu cầu lớn của xã hội và vị thế của Thủ đô trong việc phát triển mạng lưới Đông y.
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật, Phó Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương, nhận định: “Nhu cầu của người dân đối với y học cổ truyền hiện nay không chỉ dừng lại ở việc chữa bệnh lúc ốm đau, mà đã dịch chuyển mạnh mẽ sang xu hướng chăm sóc sức khỏe chủ động, phòng bệnh từ sớm và phục hồi chức năng. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Đông và Tây y tại các cơ sở y tế chuyên sâu thời gian qua đã đem lại hiệu quả điều trị vượt trội cho nhiều nhóm bệnh nan y, đặc biệt là các di chứng thần kinh và cơ xương khớp”.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, dù sở hữu kho tàng đồ sộ nhưng giá trị mang lại cho người dân và nền kinh tế của y học cổ truyền vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng vốn có. Theo Phó Chủ tịch Hội Đông y thành phố Hà Nội Chu Hải Đăng, lĩnh vực này đang phải đối mặt với nguy cơ mai một. Nhiều bài thuốc gia truyền quý giá hiện chỉ được lưu giữ trong phạm vi gia đình, dòng họ. Khi lớp người giữ nghề ngày một già đi và lực lượng kế cận thưa vắng, các tri thức này đứng trước nguy cơ thất truyền rất cao.
Chia sẻ về thực trạng này, lương y Phó Hữu Đức (Nhà thuốc gia truyền dân tộc Đức An Đường) trăn trở: “Nếu không giữ thì rất lãng phí vì Việt Nam có kho tàng các bài thuốc hữu hiệu. Hiện nay, chúng ta đang đứng trước nguy cơ thiếu con người kế cận và sự suy giảm của nguồn dược liệu tự nhiên quý hiếm do khai thác thiếu kiểm soát, lại chưa được đầu tư bảo tồn, phát triển một cách bài bản”.
Đưa y học cổ truyền thành một trụ cột của nền y tế
Bên cạnh đó, một “điểm nghẽn” lớn khác khiến y học cổ truyền khó vươn xa là việc thiếu các nghiên cứu chuyên sâu, thiếu dữ liệu lâm sàng và bằng chứng khoa học. Nhiều bài thuốc có hiệu quả điều trị rất tốt trong thực tiễn nhưng chưa được chuẩn hóa, số hóa, chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu đồng bộ. Điều này vô hình trung tạo ra rào cản lớn trong việc thương mại hóa, đăng ký bản quyền, xây dựng thương hiệu đông dược mạnh và cản trở tiến trình hội nhập quốc tế theo các tiêu chuẩn khắt khe của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Công tác chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hoạt động tại các cơ sở Đông y nhìn chung còn chậm và chưa đồng bộ.
Vậy chúng ta cần phải làm gì để phát huy các giá trị tinh hoa của y học cổ truyền dân tộc, kết hợp chặt chẽ với những thành tựu của y học hiện đại? Trả lời câu hỏi này, nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng cần nhìn nhận y học cổ truyền không chỉ dừng lại là một lĩnh vực y tế thuần túy mà phải trở thành một nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược đó, biến tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, cơ quan quản lý cần chủ động xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về các bài thuốc, phương pháp điều trị và cây thuốc quý; khuyến khích các nhà khoa học, viện nghiên cứu bắt tay cùng các lương y để thực hiện các nghiên cứu lâm sàng, chứng minh hiệu quả bằng khoa học hiện đại. Đây là tấm “hộ chiếu” bắt buộc để các sản phẩm đông dược Việt Nam tự tin bước ra thế giới. Trong nhiệm kỳ 2026-2031, Hội Đông y Hà Nội cũng đã đặt mục tiêu cụ thể: 100% tổ chức hội ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hoạt động để thúc đẩy chuyển đổi số.
Hà Nội với lợi thế là trung tâm y tế hàng đầu cả nước, hoàn toàn có thể tiên phong xây dựng các mô hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe kết hợp du lịch trải nghiệm, dưỡng sinh, phục hồi chức năng bằng y học cổ truyền. Đây sẽ là một kênh quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam vô cùng hiệu quả, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Lương y Ngô Viết Tài (Hợp tác xã Thuốc dân tộc Chùa Bộc) nhấn mạnh: “Y học cổ truyền Việt Nam là kết tinh của tri thức, văn hóa và kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe quý báu được vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử. Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, y học cổ truyền không thể tách rời mà phải trở thành một phần hữu cơ, một trụ cột vững chắc của nền y tế nước nhà”.