Khởi nghiệp

Để startup Việt vươn tầm quốc tế

Hà Thanh 09/06/2026 - 06:24

Việc Việt Nam lần đầu tiên lọt vào tốp 50 hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu cho thấy sự cải thiện rõ rệt về vị thế của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước trên bản đồ thế giới. Tuy nhiên, đằng sau bước tiến về thứ hạng vẫn là những thách thức lớn về chất lượng các công ty khởi nghiệp (startup), khả năng thương mại hóa công nghệ, tiếp cận vốn và xây dựng môi trường hỗ trợ đủ mạnh để tạo ra doanh nghiệp công nghệ có khả năng cạnh tranh quốc tế.

t5-sta-up.jpg
Nghiên cứu phát triển trí tuệ nhân tạo tại startup công nghệ Nami Technology. Ảnh: Thanh Hà

Đa dạng không gian phát triển

Theo báo cáo Chỉ số Hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu 2026 (Global Startup Ecosystem Index 2026) do StartupBlink công bố mới đây, Việt Nam hiện có vị trí cao nhất từ trước tới nay khi xếp thứ 50 toàn cầu. Đây là bảng xếp hạng thường niên và được đưa ra từ năm 2017, với dữ liệu đánh giá từ hơn 100 quốc gia và 1.000 thành phố.

Đáng chú ý, bên cạnh việc thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tiên lọt tốp 100 cũng như dẫn đầu Đông Nam Á về Hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu (đứng thứ 98), StartupBlink còn cho biết, Hà Nội, Đà Nẵng và Hải Phòng đang nổi lên với trung tâm đổi mới sáng tạo. Đây được xem là tín hiệu tích cực, phản ánh nỗ lực cải thiện môi trường đổi mới sáng tạo, thúc đẩy kết nối đầu tư và phát triển cộng đồng startup trong nhiều năm qua.

Việt Nam hiện có khoảng 4.000 công ty khởi nghiệp, 208 quỹ đầu tư, 84 vườn ươm và hơn 20 trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp ở cấp quốc gia và địa phương cùng mức định giá vào khoảng 75 tỷ USD. So với khoảng chục năm trước, đây là bước tiến dài. Đến nay, hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam đã hình thành tương đối đầy đủ các cấu phần cơ bản, từ công ty khởi nghiệp, nhà đầu tư, vườn ươm đến cơ quan hỗ trợ chính sách.

Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ các chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tháng 4-2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 86/NQ-CP về Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo, được xem như “kim chỉ nam” cho lĩnh vực này. Chiến lược xác định mục tiêu xây dựng “quốc gia khởi nghiệp sáng tạo”, trong đó tinh thần dám nghĩ, dám làm, chấp nhận rủi ro và đổi mới sáng tạo được coi là động lực phát triển dài hạn.

Theo đó, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 tiếp tục tăng mạnh số lượng công ty khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn/tách nhánh) từ viện nghiên cứu và trường đại học, đồng thời xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh. Điều này cho thấy, Chính phủ không chỉ dừng ở việc khuyến khích phong trào khởi nghiệp mà đang chuyển sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái một cách bài bản hơn. Chính phủ cũng đã ban hành danh mục công nghệ chiến lược quốc gia, trong đó xác định nhiều lĩnh vực ưu tiên, như: Trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, robot, công nghệ lượng tử, hydrogen xanh, vệ tinh quỹ đạo thấp và hạ tầng số lõi. Đây là những không gian phát triển mới cho công ty khởi nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới.

Cần sự đồng hành của chính sách

Mặc dù đạt được thứ hạng cao về hệ sinh thái khởi nghiệp nhưng giới chuyên gia nhận định, điều này chưa đồng nghĩa với việc các công ty khởi nghiệp Việt Nam đang phát triển bền vững để từ đó vươn tầm trở thành một lĩnh vực kinh tế số tương tự những quốc gia hàng đầu về khởi nghiệp như Singapore hay Hàn Quốc.

Một trong những hạn chế dễ nhận thấy nhất đối với công ty khởi nghiệp Việt Nam nằm ở chính sách, mặc dù được hỗ trợ nhiều trong những năm gần đây nhưng vẫn chưa thể giải quyết hết được các “góc khuất” của những dự án khởi nghiệp.

Chủ tịch Venture Management Consulting Group Trịnh Minh Giang phân tích, về bản chất, công ty khởi nghiệp là mô hình có tỷ lệ thất bại rất cao nhưng chính sách để hỗ trợ cho quá trình này cũng như tái khởi nghiệp lại hạn chế. Các thủ tục về phá sản hoặc giải thể đang phức tạp và kéo dài khiến nhà sáng lập khó khăn trong việc chuyển đổi sang mô hình khởi nghiệp khác. Trong khi đó, nhiều nhà sáng lập thiếu kinh nghiệm hoặc chưa chuẩn bị cho giai đoạn này, từ đó dẫn tới nghĩa vụ tài chính trở thành gánh nặng lớn, thậm chí có thể xuất hiện rủi ro về mặt pháp lý.

“Thực tế cho thấy, chính sách hỗ trợ cho công ty khởi nghiệp trong nước cần được xây dựng theo hướng toàn diện hơn. Không chỉ tập trung cho giai đoạn khởi đầu như thành lập, gọi vốn mà còn phải hướng tới các giai đoạn phát triển hoàn chỉnh như cơ chế quản trị hoặc xử lý thất bại”, ông Trịnh Minh Giang chia sẻ thêm.

Còn chuyên gia kinh tế Nguyễn Thành Đoàn khẳng định, hiện tại, phần lớn các công ty khởi nghiệp Việt Nam vẫn tồn tại các điểm yếu cố hữu là bài toán mở rộng quy mô. Trên thực tế, thế mạnh của các dự án khởi nghiệp trong nước là ý tưởng và gọi vốn sớm, nhưng khi chuyển sang giai đoạn tiếp theo thì ngay lập tức bộc lộ những hạn chế.

Rào cản mà các dự án hay gặp phải trong quá trình phát triển sản phẩm hoặc mở rộng thị trường ra quốc tế không chỉ là vốn, nguồn lực mà còn về cả tính pháp lý. Điều này khiến phần lớn các công ty khởi nghiệp mặc dù phát triển với tốc độ cao nhưng lại không thể đi đường dài. Mặt khác, cần có một cơ chế phối hợp khăng khít giữa các công ty khởi nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học, nhằm giúp các dự án khởi nghiệp có sẵn nguồn nhân lực chất lượng cao.

Để startup Việt có thể thực sự bứt phá, Việt Nam cần tiếp tục có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho lĩnh vực này, như: Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, nguồn vốn công cho khởi nghiệp và quan trọng nhất là môi trường pháp lý đủ linh hoạt, bám sát nhu cầu thực tế của các lĩnh vực công nghệ mới. Chỉ khi các công ty khởi nghiệp có đầy đủ hệ sinh thái thuận lợi để phát triển thì Việt Nam mới có thể tạo ra các doanh nghiệp công nghệ mang tầm khu vực.